【#1】Du Lịch Ninh Bình: Cẩm Nang Từ A Đến Z

Chỉ cách Hà Nội chưa tới 100 km, du lịch Ninh Bình với nhiều danh thắng đẹp cả về cảnh quan và ý nghĩa lịch sử, đã trở thành điểm đến được nhiều du khách lựa chọn.

Du lịch Ninh Bình: Cẩm nang từ A đến Z

Thời điểm lý tưởng du lịch Ninh Bình

Du khách có thể du lịch Ninh Bình vào tất cả các mùa trong năm, tuy nhiên thời điểm đẹp nhất để đi là từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch. Vào tiết xuân, nơi đây không quá lạnh hay quá nóng, đặc biệt du khách có thể kết hợp du lịch và du xuân vãn cảnh chùa, lễ chùa cầu may. Ngoài ra, vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 là thời điểm mùa lúa chín ở Tam Cốc, rất thích hợp cho những du khách thích chụp ảnh.

Di chuyển đến Ninh Bình

Cách Hà Nội 93 km về phía Nam – nơi có quốc lộ 1A, 10, 12A, 12B và cả đường sắt Bắc – Nam chạy qua, du khách có thể về Ninh Bình thông qua nhiều phương tiện khác nhau như tàu hỏa, xe buýt, ô tô riêng hoặc xe máy.

Trường hợp dùng xe khách, tuyến Hà Nội – Ninh Bình có hàng chục chuyến chạy mỗi ngày, bắt đầu từ 5h đến 23h do các nhà xe cung cấp, có thể kể đến như: Sao Việt, Cường Hưng, Hoàng Long, Vũ Thưởng, Gia Minh, Hiển Tình… Thời gian di chuyển trên chặng khoảng 2 giờ, giá thấp nhất khoảng 80.000 đồng một người.

Trường hợp đi bằng phương tiện cá nhân, từ Hà Nội, bạn theo đường Giải Phóng, qua bến xe Giáp Bát, rẽ vào cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ, từ đó đi hướng Phủ Lý là tới Ninh Bình. Thời gian di chuyển không quá 90 phút.

1. Khách sạn Vissai Ninh Bình

Địa chỉ: 848 đường Trần Hưng Đạo, thành phố Ninh Bình

2. Resort Emeralda Ninh Bình

Địa chỉ: Đầm Vân Long, Gia Vân, Gia Viễn, Ninh Bình

3. Thanh Binh Hotel

Địa chỉ: 31 đường Lương Văn Tụy, Ninh Bình

Những điểm đến tuyệt đẹp không thể bỏ qua khi du lịch Ninh Bình

Không chỉ là khu bảo tồn thiên nhiên, vùng đất ngập nước Vân Long còn là nơi có cảnh quan hấp dẫn. Vân Long được mệnh danh là “vịnh không sóng” vì khi đi trên thuyền trên đầm, du khách sẽ thấy mặt nước phẳng như một tấm gương khổng lồ. Bức tranh thuỷ mặc phản chiếu rõ từng nét tạc mạnh mẽ của những khối núi đá vôi mang hình dáng đúng với tên gọi như núi Mèo Cào, núi Mâm Xôi, núi Hòm Sách, núi Đá Bàn, núi Nghiên, núi Mồ Côi, núi Cô Tiên…

Vườn Chim Thung Nham nằm ở xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, là một trong những điểm du lịch hội tụ đầy đủ các yếu tố văn hóa, tâm linh, cảnh quan và đa dạng sinh học. Bên cạnh cảm giác thú vị khi ngồi trên thuyền, chiêm ngưỡng khu đầm, du khách còn được khám phá cuộc sống hoang dã của gần 40 loài chim với khoảng 50 ngàn con.

Vườn Quốc Gia Cúc Phương

Vườn quốc gia Cúc Phương là một địa điểm du lịch nổi tiếng về sinh thái, môi trường. Cúc Phương thu hút khoảng vài trăm nghìn lượt khách hàng năm. Du khách đến đây để khám phá hệ động thực vật phong phú, chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên đẹp, tham gia các chương trình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, lửa trại, mạo hiểm, nghiên cứu và văn hóa lịch sử. Trung tâm vườn đặt tại xã Cúc Phương, Nho Quan, Ninh Bình.

Tràng An

Tràng An là một trong những khu du lịch nổi tiếng nhất của Ninh Bình hiện nay. Phong cảnh thiên nhiên hoang sơ, tuyệt đẹp của Tràng An đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên và di sản văn hóa thế giới. Khung cảnh nơi đây được tạo nên từ dòng sông chạy uốn lượn qua các dãy núi đá vôi, tạo thành vô vàn những hang động tự nhiên huyền ảo, kỳ bí.

Chùa Bái Đính là một quần thể chùa lớn được biết đến với nhiều kỷ lục châu Á và Việt Nam được xác lập như: chùa có tượng Phật bằng đồng dát vàng lớn nhất châu Á; chùa có hành lang La Hán dài nhất châu Á; chùa có tượng Di lặc bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á,… Du lịch Ninh Bình ghé chùa Bái Đính, du khách sẽ được tham quan hang sáng, động tối, đền thờ Thánh Nguyễn, đền thờ thần Cao Sơn, Giếng Ngọc.

Cố đô Hoa Lư

Cố đô Hoa Lư là quần thể di tích quốc gia đặc biệt quan trọng đồng thời là 1 trong 4 vùng lõi của quần thể di sản thế giới Tràng An. Khu di tích lịch sử Cố đô Hoa Lư hiện nay có diện tích quy hoạch 13,87 km² thuộc tỉnh Ninh Bình. Với bề dày thời gian hơn 1000 năm, Cố đô Hoa Lư là nơi lưu trữ các di tích lịch sử qua nhiều thời đại.

Nhà thờ Phát Diệm

Nhà thờ chính tòa Phát Diệm (thường gọi là Nhà thờ đá Phát Diệm) là một quần thể nhà thờ Công giáo rộng khoảng 22 ha, nằm tại thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Nhà thờ đá Phát Diệm được báo chí đánh giá là một trong những nhà thờ đẹp nhất Việt Nam, được ví như “kinh đô công giáo” của Việt Nam.

Tam Cốc, có nghĩa là “ba hang”, gồm hang Cả, hang Hai và hang Ba. Cả ba hang đều được tạo thành bởi dòng sông Ngô Đồng đâm xuyên qua núi. Tam Cốc là tuyến du thuyền được khai thác đầu tiên ở khu du lịch Tam Cốc – Bích Động. Hang Cả dài 127 m, xuyên qua một quả núi lớn, cửa hang rộng trên 20 m. Trong hang khí hậu khá mát và có nhiều nhũ đá rủ xuống với muôn hình vạn trạng.

Bích Động

Bích Động nằm cách bến Tam Cốc 2 km, có nghĩa là “động xanh”, là tên do tể tướng Nguyễn Nghiễm, thân phụ của đại thi hào Nguyễn Du đặt cho động năm 1773. Phía trước động là một nhánh sông Ngô Đồng uốn lượn bên sườn núi, bên kia sông là cánh đồng lúa.

Núi Non Nước

Còn gọi là núi Dục Thúy nằm ở Đông Bắc thành phố Ninh Bình, cao khoảng 70m, đỉnh núi tương đối bằng phẳng. Núi nằm ở ngã ba sông Đáy và sông Vân Sàng đã tạo nên vẻ đẹp sơn thủy hữu tình cho thành phố Ninh Bình. Tại đây có hơn 40 bài thơ của các danh nhân lịch sử tạc trên vách đá.

Những món ngon không thể bỏ qua khi du lịch Ninh Bình

Cơm cháy

Cơm cháy là một trong những đặc sản ẩm thực nổi tiếng nhất của Ninh Bình. Địa bàn phát triển loại hình ẩm thực này chủ yếu là ở ven đường Quốc lộ 1, thành phố Ninh Bình và các khu du lịch. Cơm cháy Ninh Bình khác với các vùng khác từ cách chiên cho đến nước sốt đi kèm. Cơm cháy ngon có màu vàng nhạt, đều hạt, giòn mà vẫn dẻo, vị bùi, béo mà không ngán.

Gỏi cá nhệch

Ở Ninh Bình có nhiều nơi giới thiệu món ăn này ngon, nhưng gỏi cá nhệch ở Kim Sơn được coi là tuyệt nhất. Để chế biến ra món ăn đặc sắc gỏi cá Nhệch này cần nhiều khâu hết sức kì công. Món ăn này mang hương thơm bùi bùi của gạo nếp rang, vị chua thanh thanh của dấm xen vào cái vị cay ấm của gừng với tỏi, ớt, tiêu, sả. Gỏi cá nhệch thơm và bùi, có mùi vị rất đặc trưng, ăn một lần là nhớ mãi không quên.

Cua đồng rang lá lốt

Cua đồng rang lá lốt, một món ăn dân dã và phổ biến tại Ninh Bình, mang đậm hương vị đồng quê mà du khách nên thử khi ghé qua đất cố đô. Cua đồng bắt về được làm cẩn thận, lá lốt rửa sạch thái sợi sau đó hai nguyên liệu chính này được rang chung với nhau theo một công thức nhất định. Chính vì không sử dụng cua nuôi mà món ăn này mang đến cho thực khách nhiều cảm nhận bất ngờ. Đó là vị giòn tan của cua đồng kết hợp cùng vị thơm đặc trưng của lá lốt. Món ăn này ngon nhất khi được kết hợp cùng cơm nóng.

Ốc núi luộc

Ốc núi là một đặc sản nổi tiếng tại Ninh Bình vì có vị ngọt tự nhiên, đậm đà do ốc ăn lá cây cỏ và một số loại thuốc quý. Bởi thế, ốc núi được chế biến thành nhiều món khác nhau như nướng, xào me hay xào tỏi,… nhưng ưa chuộng nhất vẫn là món ốc núi luộc. Ốc núi sau khi bắt về được rửa sạch và đem luộc cùng sả. Chỉ đơn giản như vậy thôi nhưng món ngon dân dã này lại hấp dẫn nhiều người. Thực khách có thể ăn không để cảm nhận vị ngọt tự nhiên của ốc hoặc chấm cùng nước mắm chanh ớt.

Tái dê Hoa Lư

Bên cạnh tái dê, người Hoa Lư còn chế biến nhiều món khác như: Nem dê, dê hấp, dê nướng, tiết canh dê, mật,… nhưng món tái dê vẫn được xem là thơm ngon nhất. Cái ngon của tái dê ngoài bí quyết chế biến khéo léo còn ở gia vị đặc biệt. Đó là các loại lá, quả ăn kèm theo và đặc biệt là món tương gừng.

Nem chua Yên Mạc

Nhắc đến nem chua, nhiều người thường nghĩ tới Thanh Hóa, nơi nổi tiếng với những chiếc nem thơm ngon. Nhưng nếu có dịp ghé qua Ninh Bình, du khách cũng có thể thưởng thức hương vị có phần khác lạ của món ăn này. Nem chua Ninh Bình được làm từ thịt nạc mông lọc bỏ mỡ, bì lợn luộc, thính và một số gia vị như mì chính, muối,.. sau đó gói lại bằng lá ổi để tạo vị thơm đặc trưng và lá chuối để tạo vỏ ngoài đẹp mắt. Món ăn này được ăn cùng nước mắm pha chanh tỏi.

Gợi ý lịch trình du lịch Ninh Bình 2 ngày 1 đêm Ngày 1: Hà Nội – Chùa Bái Đính – Tràng An

6h00 khởi hành từ Hà Nội, đến thẳng chùa Bái Đính – Ninh Bình sau 2 – 3 tiếng. Dọc đường dừng lai ăn sáng tại Phủ Lý (Hà Nam). Nên thử bánh cuốn chả hoặc bánh đa cua. Nếu bạn theo hướng cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ – Ninh Bình rồi rẽ quốc lộ 10 thêm chừng 10km sẽ tới TP Ninh Bình thì thời gian đi chỉ khoảng 1, 5 tiếng (từ đây vào chùa Bái Đính còn 15 km nữa).

Tham quan chùa Bái Đính với các địa điểm cụ thể: chùa Bái Đính cổ (4km từ chùa mới), hang Sáng, động Tối, đền thờ Thánh Nguyễn, đền thờ thần Cao Sơn, giếng Ngọc… Tổng thời gian: 2 – 3 tiếng. Nếu muốn tiết kiệm thời gian và sức khỏe, bạn mua vé dịch vụ xe điện chở khách tham quan vì toàn bộ khu chùa diện tích khá rộng.

Ăn trưa và nghỉ ngơi từ 1 – 2 tiếng

Khoảng 2h00 đi khu du lịch Tràng An. Tổng thời gian tham quan: 3 – 5 tiếng. Điểm tham quan chính: Đền Trình, đền thờ nhà Trần, đền Cây Thị… Gần Tràng An có một nhà hàng tên Ba Cua ở trong ngõ sâu gần Đền Vua Đinh. Ở đây món thịt dê cơm cháy rất ngon. Bạn hỏi người địa phương để được chỉ dẫn thêm.

TP Ninh Bình cũng có nhiều điểm ăn vặt và dạo chơi buổi tối như: Quanh khu phố 8, nhà hàng Hương Mai, nhà sàn Cố Đô, các nhà hàng khu vực nhà thi đấu…

Ngày 2: Nhà thờ đá Phát Diệm – Vân Long – Hà Nội

Từ TP Ninh Bình đi nhà thờ đá Phát Diệm quãng đường 28 km. Ăn sáng rồi khởi hành tầm 7h00, đến nơi sau khoảng 1 tiếng. Lưu ý nếu đi nhà thờ thì nên đi vào sáng chủ nhật vì tầm 9h30 là bắt đầu có lễ, mọi người sẽ được tham dự Thánh lễ. Thời gian tham quan, chụp ảnh lưu niệm 2 – 5 tiếng.

Ăn uống và nghỉ trưa ngay gần nhà thờ đá hoặc quay lại thành phố Ninh Bình.

Chiều 1h00 khởi hành đi Vân Long.

Kết thúc chuyến du lịch Ninh Bình, bạn lên xe quay về Hà Nội.

Lựa chọn khác:

– Có thể thay lộ trình một trong 2 ngày trên bằng hành trình tham quan Cúc Phương (tuy 1 ngày đi được rất ít điểm, 2 ngày thì thoải mái hơn).

– Du khách đã từng đi Tràng An có thể chọn danh thắng khác có nhiều nét tương đồng là Tam Cốc Bích Động. Vì Tam Cốc – Bích Động cũng như Tràng An đều ngồi đò, thuyền thăm các hang, động. Khác ở chỗ Tràng An có một vài hang động dài hơn so với Tam Cốc. Gần Tam Cốc Bích Động có làng Việt cổ Cố Viên Lầu cũng có nhiều điều thú vị.

Quà mang về

Đến Ninh Bình, bạn có thể mua đặc sản cơm cháy, rượu Kim Sơn hoặc những vật lưu niệm nhỏ như bùa may mắn, vòng tay, hạt đậu… ở chùa bái Đính về làm quà.

Lưu ý

Vào mùa du lịch, bạn nên gọi điện đặt phòng trước để tránh tình trạng cháy phòng.

Thắng cảnh Ninh Bình đa phần là quần thể hang động, vì thế nếu muốn tham quan tất cả trong một chuyến du lịch, bạn nên đi khoảng 3 – 4 ngày để khám phá hết vẻ đẹp nơi đây.

Theo Tiểu Lam (Tổng hợp)

***

【#2】Truyện Và Thơ Lê Quốc Hùng

Dân tộc Thái có tiếng nói thuộc hệ ngôn ngữ Tày- Thái cũng như dân tộc Tày là người bản địa thổ dân các Bộ Ai Lao, Tây Vu, Kỳ Hưng, Tân Hưng, Tây Bắc nước Văn Lang đến Đại Việt nghìn xưa. Dân tộc Thái có nền văn minh sớm, có lịch Thái và chữ viết Thái. Đặc biệt có nền văn hóa và văn học dân gian đậm đà bản sắc dân tộc vào bậc nhất Tây Bắc Việt Nam.

Riêng về truyện cổ dân gian Thái có một kho đồ sộ ghi trong thư tịch Thái, truyền miệng từ đời này sang đời khác, được lưu giữ trong trí nhớ di truyền của mỗi người dân, cần được điền dã sưu tầm, không thì mai một dần. Ngày nay đã công bố ở địa phương và trung ương một số truyện cổ Thái sưu tầm nghiên cứu nhưng chưa nhiều.

Quyển sách này giới thiệu 58 truyện cổ Thái từ thời Văn Lang đến Đại Việt, Đại Nam đủ các thể loại thần thoại, truyền thuyết, cổ tích , sự tích, sự thế, nhân thế, ngụ ngôn, truyện loài vật, truyện vui.

Nội dung phản ánh lịch sử thiên nhiên xã hội cuộc sống muôn màu của người Thái từ cổ đại đến cận đại. Những truyện : “Trời đất và loài người”, “Mặt trời mặt trăng và các vì sao”, “Đàn con của Then được phong thần”, “Chim Cú ăn Mặt trời mặt trăng”… là thần thoại giải thích nguồn gốc vũ trụ, muôn vật và loài người, lý giải các hiện tượng tự nhiên bằng trí tưởng tượng đơn giản, hồn nhiên, ngây thơ và lý thú theo lối tư duy riêng của người Thái mà các dân tộc khác không có. Chẳng hạn người Thái đã giải thích do Then quyết định sự sống chết của loài người nên đã trải qua năm lần tuyệt chủng để sinh ra những thế hệ loài người mới văn minh tiến bộ hơn. Đó là các thời kì nguyên thủy trời đất liền nhau, giã gạo vướng chày, người ăn hang ở lỗ con không bố, Then gọi hết về trời; sau đến trời đất cách xa nhau, cây lúa tự gieo mạ tự gặt về bịch rồi lúa lười bắt người cấy gặt, người già người lột, không sinh nở phát chán, Then nổi giận mở bảy đường nắng hạn hán, rồi lại mở chín đường mưa đại hồng thủy, người vật chết hết xong một kiếp; tiếp đến Then sinh ra lớp người tiếp theo làm ăn khó khăn, cỏ cây héo hon, chim muông không biết hót, người chán nản, kêu van Then lại cho về trời; Then lại tạo ra người vật khổng lồ, mở ra thời đại ông bà Ải Lậc Cậc, cày bừa san mặt đất, mưa thuận gió hòa, muôn vật tốt tươi con người sung sướng. Then lại bắt người khổng lồ chết hết; Sau cùng Then cho loài người khác xuống trần tạo ra thời đại Tum Hoàng tìm mường ăn mường đặt tạo lập bản trên địa bàn chín con sông (Tây Bắc Việt Nam ngày nay). Thần thoại Thái phản ánh tuy chưa khoa học nhưng đúng như lịch sử loài người ngày nay được biết đã trải qua 5 lần thiên tai tuyệt chủng lại phục sinh.

Công việc tạo lập vũ trụ là do Then song còn do con người khát vọng anh hùng của người nguyên thủy đã cầm chày đâm vỡ tan 6 mặt trời chống nóng, 6 mặt trăng chống lạnh mà có các vì sao đỏ, vì sao vàng, vì sao xanh. Do chịu nóng lạnh khác nhau trong chiến đấu mà sinh ra 5 chủng người màu da đen nâu đỏ vàng trắng.

Các truyện Ông bà Ải Lậc Cậc, Tạo Cập Ý Kè vừa là thần thoại vừa là truyền thuyết giải thích sự hình thành sông núi, công cuộc chinh phục thiên nhiên mở mang chín châu mười mường của người Thái Tây Bắc và giải thích nguồn gốc các dân tộc Việt Nam ngày nay.

Các truyện Tổ tiên Người Thái, Nàng Sa Nhất, Họ Khăm giữ đất giữ mường, Lò Lạng Chượng, Ngưu Hống, Sa Khả Tham, Khả Lam quận công, Chúa động Ma Sa, Hai anh em họ Đào, Tự chặt chân tay… là truyền thuyết lịch sử người Thái ở Tây Bắc Việt Nam nói riêng Đông Nam Á nói chung trong tiến trình lịch sử đã sớm có ý thức tự chủ tự cường dân tôc rìm mường ăn mường, dựng tạo, lập bản, lập quốc, mở mang bờ cõi lãnh thổ đã đóng góp xây dựng thời đại Hùng Vương, nền văn minh Đông Sơn rực rỡ, lập nước Văn Lang Âu Lạc, làm chủ các Bộ Tây Bắc Ai Lao, Tây Vu, Kỳ Hưng, Tân Hưng với tên tuổi anh hùng dân tộc như Tum Hoàng, Tạo Xuông, Tạo Ngần, Thục Chế, Thục Phán, Tây Vu Vương, Lò Lạng Chượng; đặc biệt là lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, đấu tranh kiên cường bất khuất, chống Hán xâm lược, bảo vệ lãnh thổ vùng biên giới phía Tây Bắc, tham gia các cuộc khởi nghĩa kháng chiến lập quốc của các triều đại Đại Việt hướng về cộng đồng Đại Việt-Đại Nam với những người anh hùng Thái như Sa Khả Tham, Khả Lam thời Lê Sơ, Đào Quốc Kế , Đào Quốc Uy, Cầm Hánh thời Nguyễn. Những nhân vật lịch sử Thái như Ngưu Hống Thời Lý Trần, Đèo Cát Hãn thời Lê Sơ, vua Xiêm La thời Tây Sơn có ý thức tự tôn dân tộc Thái quá khích tranh giành quyền lực gây nội chiến và chiến tranh xâm lược đáng phê phán lên án.

Các truyện Sự tích Mường Then, Cây đa Mường Then, Người diệt Diều Hâu tinh, Người Diệt Quỉ Nhai, Sự tích bản Lấm, Trâu đá gẫy một sừng, Nghiên bút thần… đề cao những người anh hùng huyền thoại Thái chống thiên tai hạn lụt và các thế lực tự nhiên muông thú hung ác bảo vệ cuộc sống của con người và muôn vật bình yên, đề cao trí tuệ Thái vị nhân sinh, đánh giặc ngoại xâm.

Truyện cổ tích Thái phong phú đa dạng, những truyện sự tích mường bản , hang suối, cây cỏ, trang phục… như Sự tích bản Lốm, Suối Nước Mắt, Sự tích suối Hát bản Hát, Sự tích bụi nứa tép và cây sáo pí pặp, Sự tích hang Bu suối Bu bản Bu, Sự tích suối đá cuội và chim lộc ít ở núi Phiêng Cại, Sự tích cây hoa ban và lễ hội Hoa Ban… đều phản ánh tình yêu nam nữ tự do, say đắm, thủy chung nhưng éo le bất hạnh vì phân biệt đẳng cấp giầu nghèo, vì lễ giáo phong kiến môn đăng hộ đối, yêu nhau không lấy được nhau dẫn đến cái chết bi kịch biến thành các sự vật vĩnh cửu lưu truyền nhắc nhở cảnh tỉnh cho muôn đời sau tranh đấu giành tự do luyến ái cho con người và phê phán hôn nhân lừa gạt mua bán ích kỷ xấu xa. Chủ đề tình yêu nam nữ tình vợ chồng hạnh phúc chung thủy có tính nhân văn sâu sắc lãng mạn được thể hiện qua các truyện Đôi người lại gặp nhau, Mối tình già bên bờ Nậm Thia… Nhiều truyện nhân thế phản ánh nhiều thân phận con người như trẻ mồ côi mẹ ở với dì ghẻ bị hại, được linh hồn mẹ đẻ cứu thoát trở thành vua lúa, vinh hoa phú quí trong truyện Vua Lúa, người em mồ côi bị vợ chồng người anh hất hủi, chiếm hết gia tài, đã làm ăn vượt khó tự cứu lấy mình trở thành giầu sang phú quí giúp ích cho xã hội hạnh phúc vẻ vang trong truyện Buồng chuối vàng, Cây thuốc hoàn sinh… Người em mồ côi biết giữ gìn kỉ vật thiêng liêng của gia đình, kế thừa phát huy được truyền thống, trở thành người vinh gia hiển quốc anh hùng cứu nước trong truyện Nghiên bút thần. Một anh chàng vô nghề nghiệp chỉ biết chơi, trong cái chơi anh biết nắm bắt thời cơ, vận hội, dùng ba tấc lưỡi làm giầu cũng phất lên thành người phú quí trong truyện Sự tích con cò rình bắt cá bên dòng nước chảy. Ông lão và đứa trẻ ở hiền sống thân thiện với muôn loài được trả nghĩa thoát tai ương bệnh tật thoát hiểm trong tuyện Thầy lang Hổ và Chú nai con. Mặt khác các truyện này còn phê phán những kẻ sống bất lương bất thiện không tôn trọng vạn vật muôn loài dù là quan như chi châu chột mắt (Thầy Lang Hổ), hay là dân như cô Lò Miên kênh kiệu, cư xử ác với con hươu vàng (Con hươu vàng bên bờ Nậm Đung) và mụ dì ghẻ hại con chồng (Vua Lúa) đều bị trả giá thích đáng. Các truyện cổ tích khác như Ma cà rồng, Người nghiện hổ nghiện có tính phê phán thói dễ tin, định kiến, thành kiến dễ bị những kẻ thống trị phìa tạo và thầy mo cầm quyền và thần quyền, biến con mắt nhìn tốt ra xấu, ích kỉ vu oan cho những con người ngay thẳng lương thiện thành ma cà rồng để đuổi ra khỏi cộng đồng xã hội; thói xấu xã hội lôi kéo bạn bè vào con đường nghiện hút ma túy để phá sản tan nát gia đình, cô đơn, chết khổ…

Truyện loài vật và ngụ ngôn Thái như Chàng cáo và cô vịt trời, Chuột vẫn là chuột, Mèo và chuột…nêu lên những bài học nhân văn sâu sắc sống mãi từ ngàn xưa đến mai sau . Chẳng hạn truyện Chuột vẫn là chuột cho thấy: Trời cho mỗi con vật cũng như mỗi con người không cho tất cả, được cái này không cái kia, nên đừng ganh tị, mơ ước đổi đời hão huyền, hãy cứ làm đúng chức năng bổn phận trời cho mình thì tồn tại, có chỗ đứng xứng đáng trong trời đất, bằng không thì chẳng nên vật nên người.

Truyện vui Thái như Người ở rể và bố vợ, Cậu bé ham chơi cù quay, vừa gây cười vừa có tính phê phán và rèn trí thông minh, có tác dụng giáo dục tốt.

Truyện cổ Thái còn là bức tranh sinh động về thiên nhiên xã hội phong tục tập quán nếp sống văn háa Thái thấp thoáng trong các truyện như văn hóa trang phục phụ nữ Thái, văn hóa ẩm thực Thái, văn hóa Lễ hội Thái như lễ hội cầu mưa, Lễ hội lồng tồng, đặc trưng văn nghệ Thái múa xòe, múa sạp, hát khắp, đàn tính tẩu, sáo pí pặp, kiến trúc Thái nhà sàn bốn mái hình mai rùa…

Cũng như các dân tộc anh em khác, Truyện cổ Thái có đầy đủ đặc điểm nghệ thuật thi pháp ngôn từ của các thể loại như tự sự , trữ tình, hiện thực phê phán , lãng mạn kì ảo. Nội dung hình thức có giá trị nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ, giải trí và dự báo, và đóng góp nhất định cho nền văn học dân gian Việt Nam đa dân tộc, đa màu sắc.

Quyển sách này do tôi nguyên giáo viên THPT và Hội viên Hội VHNT tỉnh Yên Bái đã điền dã và tham khảo tài liệu trong thời gian dạy học ở tỉnh Hoàng Liên Sơn cũ sưu tầm, biên soạn, nhằm phục vụ giảng dạy khi đương chức, nay trình làng. Ngọc còn có vết. Chắc chắn quyển sách còn nhiều hạn chế mong được bạn đọc chỉ giáo, phê bình gửi về Nhà xuất bản để lần tái bản sau quyển sách được hoàn thiện tốt đẹp hơn. Xin chân trọng cảm ơn.

Ngày ấy, trời sinh ra mới nhú lên bằng hoa nấm, đất mới dựng chụm lại thành ba cột. Từ miền bảy quả đồi, miền chín ngọn nước, miền mường Ôm mường Ai, mường Lò ngoài vòm trời nước chảy và từ miền sông Đà trong xanh sông Thao nước đỏ gặp nhau.

Then cử bảy chúa đều là người trời đem con cháu gồm có 10 giống Xá (Kháng, La Ha, La Chí, Xinh Mun, Khơ Mú…), 5 giống Thái xuống “ăn” đất trần gian để dựng bản lập mường. Nhưng loài người lúc đó còn dại lắm. Có bản không biết lập mường. Có mường không biết đặt tạo. Họ từng bầy từng lũ lang thang ven rừng khe suối. Nhà cửa chưa biết làm . Đến tối gặp đâu ngủ đấy, nay gốc cây mai hang đá. Họ kiếm được gì ăn nấy. Ban đầu ăn lá hoa củ hạt. Sau ăn cả động vật không cần chọc tiết, ăn thịt tươi đỏ loét không biết tanh hôi. Thế mà ngưòi họ vẫn khỏe, thân rắn như đồng như sắt, chân chạy nhanh thì bắt được hươu, tay vơ vội được chim được sóc.

Họ không có quần áo che thân, trần truồng như bầy thú. Họ không biết nên vợ nên chồng, ăn chung ở đụng. Con đẻ ra không biết bố, người lớn lên không biết dòng họ. Thực là hỗn độn không cùng giống. Vạn người không cùng bản, làm sao họ dựng nên trần gian được. Then đành phải gọi hết về trời.

Then lại cho lớp người khác xuống. Thuở ấy người già người lột, rắn già thì rắn chết chui tuột vào săng. Thế mà rắn vẫn nhiều như cây rừng. Mọi vật đều biết nói. Con đỉa còn biết kêu. Con vắt còn biết nghe ngóng. Rái cá biết trả lời. Nai hoãng biết kêu than. Cú vọ chim ưng biết kể chuyện. Lợn chó biết kêu xin. Cỏ cây biết tiếng người. Người muốn giết, vật van lạy. Người muốn chặt, cây xin tha. Cây chặt ra máu chảy như máu người. Riêng cây chuối không biết nói. Người mới dùng chúng làm nhà ở.

Thuở ấy trời còn thấp lè tè.Người đứng với tay cũng tới. Bò đi còn vướng cổ. Lợn đi còn vướng lưng. Giã gạo sợ vướng chày. Phơi lúa e vướng nong. Xe chỉ lo vướng guồng. Người lên trời thì bước cao, đi xuống đất thì bước thấp. Thuở ấy hạt lúa to bằng thúng cái, hạt đỗ to bằng thúng con. Bẹ rau cải phải lấy rìu chặt. Lá cây bông bằng lá dong. Nhúm bông xe sợi đủ mắc khung cửi dệt. Người làm ít được ăn nhiều. Then lại cho người biết đan chài có chân sắt có chân đồng xuống. Từ đó thức ăn kiếm càng dễ dàng.Chài quăng xuống nước được cá chiên, cá trắm, quăng lên cạn được ăn nai ăn hoẵng, quăng vào bản úp được hồn người.

Người thuở đó ăn gỏi ăn lạp. Lại thêm lúa trong bịch hết, lúa khắc về nhà. Cá hết, cá khắc nhảy lên chậu. Muốn gieo lúa , lúa tự bay vào ruộng mạ. Muốn được quả, quả khắc hiện trên cành. Một lần mẹ con nhà góa bụa, tính hay cáu gắt, đi nương gặp khóm lúa cao làm vướng tai vướng cổ , bèn cầm dao băm hạt lúa. Lúa rơi xuống nằm lẫn trong đất trong cát. Lúa biến thành như loài cỏ. Từ đó ai lấy lúa về gieo mới có ăn. Lúa cũng lười không đi vào bịch. Lúa trên nương đợi người đến ngắt. Lúa dưới ruộng bắt người đến gặt.

Ngày ấy , gà không làm ổ, khi đẻ không nhớ chuồng. Gà tranh nhau chỗ ở, giành nhau trứng. Người ta cũng quên chỗ trú, dựng nhà quên mất nhà. Người như gà ở lẫn lộn tranh giành nhau. Việc đó không hợp ý Then. Da Náng Then ( vợ Then ) trên trời giận dữ, sai cắt dây cát căn dây gắm làm đứt đường lên trời xuống trần. Trời dâng lên cao, lên cao mãi chín tầng mây cách biệt hẳn mặt đất, cao bằng sáu đời cuông , hai đời tạo. Trời đất xa nhau bằng ba đống tơ, to bằng ba con trâu, xa bằng bảy đống mây, to bằng bảy con voi, xa bằng ba trăm ba mươi sáu đường tên đi, năm trăm năm mươi lần đạn réo.

Thuở đó, người già người lột nên sống lâu. Sống lâu lại không được sinh nở. Sống lâu mãi mãi phát chán vì không được về trời. Người mới bảo nhau làm trái ý Then. Họ đi lùng giết ếch nhái, giết rắn lấp hang cóc. Các con vật hãi hùng kêu thấu điếc tai Then. Then nổi giận cái tức bằng ba con trâu, cái giận bằng bảy con voi. Then bèn mở bảy đường nắng, đóng chín đường mưa. Dưới trần hạn hán kéo dài. Nắng dữ đất cằn cỏ héo. Trâu bò chết đói chết khát. Lúa trên nương trên rẫy khô cháy. Ốc dưới đồng sâu chết cạn. Men rượu trên gác bếp nhuộm khói. Củ mài mục hấp hơi dưới hố sâu. Người đi buôn chết khát giữa đường. Người muốn ăn cá không có. Người làm đồng muốn ăn con bọ xít châu chấu niêng niễng không còn. Loài người đều chết hết. Kẻ chết dưới gốc gạo, người nằm bên gốc đa. Trần gian duy sót lại Lạng Ải và Lạng Nhi. Họ phải đưa nhau lên Thanh Nưa làm đăng làm đó bắt cá. Ba ngày họ mang cá chiên qua, cá không qua. Sáu ngày họ mang cá trắm xuống, cá không xuống. Tức quá họ lấy gỗ rừng đóng quan tài. Họ giết rắn rồi giả làm ma, liệm nhái như liệm người chết. Lấy ốc làm rau, bắt cú làm chủ hồn, con ruồi làm chủ áo, đem con kì dông về thay người giót rượu. Cúng rượu lên trời cúng bằng chum con. Quả nhiên Then giận bằng ba con trâu, tức bằng bảy con voi, sai mở chín đường mưa, đóng bảy đường nắng. Sấm vang chớp lóe. Mây kéo tối trời. Khắp trần gian mịt mùng như ngập trong chậu nước ỏm trám đen. Hạt mưa to bằng quả táo. Khắp sông suối đầy tràn . Hồ ao ruộng đồng đồi núi đều ngập. Nước dâng tới cửa trời, cuốn cát sỏi vào bậc nhà trời. Ba tháng vẫn còn mưa. Sáu tháng mới cạn. Loài người sặc nước không còn ai. Cây cỏ đều rữa nát. Mùi hôi thối nồng nặc xông lên thiên đình. Then không chịu nổi lại mở bảy đường nắng, rút chín đường mưa. Trần gian nắng như lửa đốt. Người vật cây cỏ chết gặp nắng mủn ra tan thành cát bụi. Đất nung thành gang cháy đỏ. Đá biến thành vôi. Người vật lại xong một kiếp.

Then lại sinh một kiếp người cho xuống trần gian nối dõi. Lúc đó mặt đất khô cằn. Cây cỏ chưa mọc. Trâu bò voi ngựa chưa có cái ăn. Mạ dưới ruộng héo khô. Lúa trên nương cằn cỗi. Rau trồng không nảy nhánh. Cây rừng không ra hoa kết quả. Người ta be bờ không thành vũng, khơi dòng suối nước không chảy. Họa mi không hót gà không gáy. Chim cu không gù. Vượn không hú. Cáo không chạy chơi. Công không múa. Dơi nằm lì trong hốc đá. Loài người đâm chán nản. Kiếp người thật ngắn ngủi. Họ không muốn sống lâu dưới trần gian, kêu van Then xin về chầu trời.

Then buồn bực lắm, sai Thần Me Bảu nặn đúc lứa người khác đưa xuống trần gian. Lần này loài người to bằng ba quả núi. Tai bằng chiếc quạt lúa. Má phình tựa mái nhà. Đùi to năm người ôm không xuể. Đó là con cháu Ải Lậc Cậc. Họ giáng trần mang theo bò chín ngàn bướu, trâu chín ngàn vai, cày bừa khỏe như sức voi. Họ cày bừa mặt đất làm ăn. Xan gạt núi đồi thành ruộng nước. Họ dùng mai trạm trổ cán bịt bạc để đào mương đắp phai. Họ cày đất đen lên lộn đất đỏ xuống. Đất màu mỡ trùm lên đất xấu. Đường cày rộng đủ cho ngựa phi. Ruộng cấy đủ hai chục trâu chạy. Then cho mưa thuận gió hòa. Trâu bò có cỏ ăn. Voi ngựa no bụng. Lúa ruộng cấy chín vàng đầy đồng. Lúa nương gieo xanh mượt mà rẫy. Rau non mập mạp vút tầm cao. Quả chín vàng thơm ngọt chĩu cành. Be nước , nước thành vũng. Khơi suối nước chảy tràn. Lợn chó không chết gà vịt không toi. Muốn làm gì được nấy. Chín châu mười mường đầy tiếng ca. Qua hai ngàn mùa lúa chín, qua hai ngàn đời cá ruộng, lớp người này lại đua nhau về chầu trời, bỏ lại trần gian vắng tanh. Lúa mọc không có người ăn. Đất bằng vắng bóng người đi. Đó là lúc Ải Lậc Cậc bị Chô Côm bẻ gẫy giò chết.

Tiếp đó , Then lại cho lớp người khác xuống trần gian xếp đặt lại. Then cử tạo Tum Hoàng làm chủ ngọn sông Nậm Lài, Ao Xe, Nậm Tè, Nậm Na, Nậm Tao. Tạo Tum Hoàng là con rể Then đưa hai anh em tạo Xuông tạo Ngần xuống “ăn” đất mường Ôm, mường Ai ngoài vòm trời. Then cho hai tạo tám quả bầu, tám cái cột đồng chống trời. Các thứ đó được giao cho 330 người họ Xá, 550 người họ Thái khiêng xuống mặt đất. Trong quả bầu Then đựng 330 giống lúa, 330 giống cá, có cả sách cúng, sách bói, sách xem ngày tháng tốt xấu. Then dặn khi người trần sinh nở phải treo nhau thai ra ngoài trời cho Then biết.

Cha con tạo đến cánh đồng Xe gặp Đá Nhai Lại. Đá Nhai Lại kêu đôm đốp, kêu lộp cộp. Ai cũng sợ cũng run. Hai tạo cử bà một, ông mo, ông chang đặt lễ cúng. Cúng cả trâu lợn dê, cúng không thiếu thứ gì. Chủ Đá vẫn không ưng. Hai tạo lại sai bà một ông mo ông chang dân trai tráng ném 330 giống bưởi 330 giống bòng vào mồm đá nhai lại. Đá bị ghê răng lạnh gáy ngừng nhai. Hai tạo sai bò xuống trước. Bò kêu ò bò. Vì vậy nay sừng bò cụp về phía trước. Hai tạo lại sai trâu xuống . Trâu sợ, trâu kêu nghé ọ. Bởi thế nay sừng trâu ngả về phía sau. Hai tạo cho ngựa xuống. Ngựa sợ bỏ sừng lại. Nay ngựa không còn sừng. Nai xuống tiếp theo nhặt được sừng của ngựa. Nai từ đó có sừng. Hai tạo đi gặp chủ khoét lỗ trời nhờ khoét lỗ làm đường xuống trần gian. Tạo mới xuống mường Cang rồi đến mường Ôm, mường Ai ngoài vòm trời. Mường Ôm sẵn nguồn trâu, mường Ai sẵn nguồn thóc. Nhưng ở đó người vật chỉ ăn hơi ăn hương ăn hoa, chỉ ngửi mùi cơm, mường Ôm mười Ai không ở được.

Hai tạo cho xuống mường Bỏ Té sáu quả bầu sáu cột đồng chống trời. Tạo cho đất Kinh, đất Mọi, đất Lào mường Dôn mường Tao hai quả bầu và hai cột đồng. Tạo Xuông tạo Ngần xuống dựng mường Lò Luông. Cùng theo có các họ Lò, Lường, Quảng, Tông , Lào. Những họ này tôn họ Lò làm chủ. Lúc đó đất mường Lò đã có người Mọi người Mang cư trú. Xây dựng xong mường Lò, tạo Ngần về mường Bo, còn tạo Xuông ở lại, lấy vợ ở đó sinh con là tạo Lò. Tạo cho Khun Lưởng làm mo, tạo Lò làm chúa. Về sau không sống ở đó tạo Xuông trở về mường Ôm mường Ai quê cũ.

(Theo Đặng Nghiêm Vạn và Trương Sỹ Hùng)

Mặt trời, mặt trăng và các vì sao

Ngày ấy trời và đất gần nhau đến mức giã gạo vướng chày, đẽo cày vướng rìu. Người trần gian không chịu được sự chật trội liền bảo nhau đi chặt cây về làm chày đứng giã đất cho đất thấp xuống, chọc trời cho trời cao lên, làm ăn sinh sống được tự do phóng khoáng không bị vướng víu.

Then không còn được ở gần ngắm đất hàng ngày, nổi cơn tức giận phát khùng bèn thả bảy mặt trời mở bảy đường nắng lửa thiêu chết người trần gian. Người sợ nắng lửa chạy vào trong hang nước ngâm mình thì sống sót. Họ bàn nhau phải diệt bảy mặt trời để cứu người cứu vật không chết cháy thì mới sống được. Một người nói :

-Chúng ta đã dùng chày đứng chọc trời lên đâm đất xuống thì lại dùng chày đứng chọc mặt trời cho vỡ tan chứ sao?!

Thế là họ dàn hàng người đứng trên đỉnh núi chờ bảy mặt trời đến cầm chày chọc vào. Mặt trời như quả bóng lửa trúng chày tung lên va vào nhau nổ ầm ầm vỡ tan tành. Những mảnh vỡ tung tóe đỏ lửa rơi như mưa xuống sông hồ biển tắt ngấm. Những mảnh rơi trên đất bốc lửa khói bay mù mịt. Những mảnh bắn lên cao găm vào da trời thành những vì sao đỏ, sao vàng da cam nhấp nháy tít xa. Duy nhất còn một mặt trời bị trúng chày đau quá khiếp sợ bay vút lên cao sống sót đến ngày nay.

Những người cầm chày chiến đấu bị những mảnh lửa như mưa vào người đều bị bỏng nặng chết, sắp chết. Họ khiêng người trọng thương vào hang nước mát ngâm mình thì thấy giảm đau, ai còn ôm chày hít thở mùi chày thì từ từ trở lại bình thường. Thấy thế, họ lại khiêng những người chết bỏng vào hang ngâm nước mát cho ngửi đầu chày đều sống lại.

Sáu mặt trời phun lửa tan vỡ mà người trần vẫn chưa chết hết, Then càng phát điên quát :

-Bọn người cầm chày chống lại trời chưa chết nóng thì cho chúng chết lạnh! Thiên Lôi! Hãy thả bảy mặt trăng bay sát đất mở bảy đường sáng lạnh mau!

Bảy mặt trăng bay đến đâu khí lạnh tràn ngập đến đấy. Người rét run da tím bầm, liền chạy vào trong hang cạn thật sâu được ấm dần lên, thoát chết. Họ lại bảo nhau cầm chày ra diệt mặt trăng. Họ dàn quân đứng trên đỉnh núi. Bảy mặt trăng bay tới đúng tầm, họ đâm đầu chày vào. Bảy mặt trăng bắn loạn xạ lên cao va nhau vỡ tan tành. Những mảnh vỡ rơi xuống đất xuống nước thành băng tan dần. Những mảnh vút lên cao găm vào da trời thành những vì sao xanh sao trắng lấp lánh li ti. Một mặt trăng không bị va chạm chạy thoát bay vút lên cao như ngày nay.

Những người bị mưa mảnh mặt trăng trúng người rét run chết cứng. Người ta lại khiêng về hang ấm cho ngửi đầu chày đều sống lại.

Người trần gian cầm chày đâm tan mặt trời quen chịu nóng, xuống phương Nam tìm mường ăn mường thành người da đen, da xám, da nâu, da đỏ. Những người cầm chày chọc mặt trăng quen chịu lạnh lên phương Bắc tìm mường ăn mường thành người da vàng da trắng.

Từ ấy trời đất cách xa nhau ngàn vạn ngày chim bay và có bầu trời, đỉnh trời, chân trời, lưng trời, đầu trời cuối đất, có ngày có đêm, có mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú gọi là trời sao muôn hình vạn trang. Người ta có câu : ” Ai rời bỏ tay chày giã gạo chọc trời đâm đất thì người ấy chết.”

Cầm Ngọc Chương kể- Ghi ở mường Lò 1980.

Đàn con của Then được phong thần

Thuở trời và đất còn gần nhau giã gạo vướng chày, đi cày vướng sừng trâu, ngày nào Then cũng ngắm mặt đất thấy người con gái đẹp mà người ta gọi là Bà Đất sinh lòng mê. Then lấy Bà Đất làm vợ đưa lên mường Trời ở phong là Da Náng Then. Hai người sống chăn gối nồng nàn hạnh phúc.

Da Náng Then có chửa sinh ra quả bầu. Từ trong quả bầu có tiếng rì rầm rồi đục lỗ chui ra lần lượt những đứa con, Then làm phép đặt tên phong thần cho chúng. Đứa chui ra đầu tiên là Thần Sấm, đứa thứ hai là Thần Chớp, đứa thứ ba là Thần Dông Bão, đứa thứ tư là Thần Mưa, đứa thứ năm là Thần Lũ Lụt, đứa thứ sáu là Thần Động Đất, đứa thứ bảy là Nữ Thần Cầu Vồng, đứa thứ tám là Thần Nắng, đứa thứ chín là Thần Lửa, đứa thứ mười là Thần Hạn Hán, đứa thứ mười một là Thần Sương, đứa thứ mười hai là Thần Gió, đứa thứ mười ba là Thần Hoàng Trùng, đứa thứ mười bốn là Thần Sinh, đứa thứ mười lăm là Thần Tử, đứa thứ mười sáu là thần Nước, đứa thứ mười bảy là Thần Nông.

Mười bảy đứa con Then giúp Then cai trị trời đất, muôn vật và loài người. Mỗi đứa con một tính một nết một tài năng vừa tương sinh vừa tương khắc nhau, trung thành thực hiện nhiệm vụ của Then giao.

Năm ấy Then tức giận căm ghét loài người tàn sát muôn vật, bắn chim bẫy thú, chặt cây phá rừng, đào núi lấp sông, phóng uế vào không khí đất và nước, lấy chày chọc trời giã đất cho cách xa nhau chín tầng mây. Để hả giận, Then đã mở bảy đường nắng, đóng chín đường mưa cho hạ giới chết hết. Nghe lệnh của Then, Thần Gió thổi đuổi mây vào hang đóng cửa lại. Bầu trời quang quẻ. Thần Nắng dẫn ánh sáng lửa mặt trời thiêu khắp chốn nung nóng mặt đất. Thần Hạn Hán hoành hành ngang dọc tiêu tan hơi nước mất độ ẩm. Thần Hoàng Trùng xuất quân sâu bọ lớn nhỏ gây đại dịch. Sông hồ cạn kiệt. Đồng ruộng nứt nẻ. Cây cỏ chết khô. Thần Lửa phóng hỏa cháy rừng ra tro. Thần Động Đất gây địa chấn lung lay nghiêng ngửa, núi lửa phun trào, sóng thần cuốn phăng lục địa. Muông thú loài người chết khát, chết cháy, chết đói, chết bệnh la liệt, chết động đất không còn một mống. Thần Tử mặc áo quạ bay là là mặt đất giơ lưỡi hái gặt những linh hồn .

Đêm về Thần Sương thương khóc quê ngoại mặt đất anh em họ hàng thân thích chết chóc, nước mắt rơi ướt đầm. Thần Sinh tiếc công gây nuôi vạn vật sinh linh của mình phả hơi sự sống vào nước mắt của Thần Sương rơi đến đâu cây cỏ vạn vật loài người tái sinh đến đấy. Thần Nước cung cấp nước sạch nuôi sống sinh linh. Thần Nông dạy loài người tái sinh trồng cấy chăn nuôi chế biến thức ăn thức mặc. Chẳng bao lâu sự sống lại phồn thịnh như xưa.

Loài người lại tiếp tục ăn muôn loài dần dần dẫn đến tuyệt chủng. Mặt đất ô uế rác bẩn chưa từng có khiến Then trên chín tầng mây cũng ngạt thở. Cây cỏ muông thú kêu cứu dậy trời. Then lại nổi giận lôi đình sai mở chín đường mưa, đóng bảy đường nắng. Thần Sấm Sét ùng oàng long trời chuyển đất. Thần Chớp vung những tia lửa rắn, lửa chạc cày, lửa rễ chùm, lửa hình cầu, sáng lòe kinh khiếp. Thần Dông Bão cuốn mây đen kịt bầu trời, xoáy lốc, nhổ cây, tốc nhà, bay vật. Thần Mưa xối nước như thác đổ xuống mặt đất giặt giũ muôn loài tẩy rửa tanh hôi. Thần Lũ Lụt dâng biển hồ sông suối nước lên cửa Thiên Đình. Muôn vật loài người được tắm sạch nhưng cũng sặc nước chết sạch làm cỗ cho thủy sinh. Thần Tử khoác áo quạ là là bay trước cơn dông giơ lưỡi hái gặt những linh hồn.

Then và Da Náng Then đang hát khắp báo sao và gẩy đàn tính tẩu tình tang thì thấy nước tràn vào nhà, vội vàng mở khóa cửa cho Nữ Thần Cầu Vồng ra làm nhiệm vụ. Nàng vừa khóc thương quê ngoại cùng anh em họ hàng chìm trong nước mưa nước lụt vừa thổi ra hình cầu vồng bảy sắc dựng trước trời. Tức thì Thần Sấm Sét thôi thét gào, Thần Chớp ngừng vung lửa, Thần Mưa bóp cổ rồng ngừng phun. Thần Dông Bão tan biến. Thần Lũ Lụt rút lui về Đại Dương. Then đóng chín đường mưa. Mặt đất trơ đất bùn bãi lầy.

Thần gió thổi se mặt đất mang theo nước mắt của Thần Sương khóc hạ giới và những hạt sự sống của Thần Sinh gieo khắp nơi. Hạt gieo đến đâu muôn vật và loài người lại tái sinh đến đấy. Cây cỏ, muông thú và con người được thần Nước cấp dưỡng vừa đủ lại đông đàn dài lũ. Thần Nông lại giáng hạ dạy bảo loài người làm nghề canh cửi cấy lúa nuôi trâu voi dệt thổ cẩm. Mặt đất luân hồi xanh.

Từ ấy cái chết và cái sống trên mặt đất do Then và đàn con Then được phong Thần định đoạt diễn ra theo chu kì nắng mưa, hạn lụt. Dần dần con người hiểu ra rằng phải biết thân thiện với muôn loài, giữ cân bằng trời đất, thì Then không nổi giận, mới được mưa thuận gió hòa, sống yên ổn.

Lường Thanh Xuân kể- Ghi ở Trường TNDT Lũng Mu Mường Lò 1980

Ngày ấy, trời và đất chưa xa nhau như bây giờ. Người đất vẫn thường bắc thang lên hỏi ông Then mọi việc.

Cuộc sống đang yên vui bất ngờ trời bão lớn mưa to. Mặt đất ngập lụt mênh mông. Kẻ chết làm mồi cho cá. Người sống lam lũ cực khổ trong bùn lầy nước đọng. Không chịu được người dùng hai cây tre hóp dài thẳng vút làm thang lên hỏi ông Then. Then cử vợ chồng ông bà Ải Lậc Cậc xuống hạ giới giúp người. Ông bà Ải Lậc Cậc là người khổng lồ như ông Đùng bà Đà của người Việt-Mường. Ông Ải Lậc Cậc vung tay đá chân san bạt đồi núi thành những cánh đồng bồn địa và cao nguyên bằng phẳng khu vực Nam Vân Nam, Bắc Đông Dương như nhất Thanh nhị Lò tam Than tứ Tắc và cao nguyên Mộc Châu, Tà Pình, Bình Lư. Bà Ải Lậc Cậc dùng cây gỗ lớn cứng như sắt dũi đất thành chín con sông: nậm Công (Mê Công), nậm Ma (sông Mã), nậm Ta (sông Đà), nậm Tao (sông Thao), nậm U, nậm Nua, nậm Na, sông Lan Thương, sông Irôoati (Vân Nam) và nhiều suối như nậm Rốm, nậm Tung, nậm Thia, Nậm Luông, nậm Thà, nậm Thi… Ông bà dạy bảo con cháu đắp bờ ngang bờ dọc, làm mương, phai, cọn tưới nước, làm ruộng bậc thang, ruộng lòng chảo, cấy lúa nương lúa nước, gạo đỏ gạo trắng, gạo nếp nuôi người gạo tẻ nuôi lợn nổi tiếng và xây dựng nên các mường Ôm, mường Ai, mường Lò, mường Hỏ, mường Bo tè, mường Óc, mường Ác, mường La, mường Tum Hoàng, mường Then, mường Bum, mường Luân, mường Tè…

Một hôm ông bà đang dạy dân cày bừa cấy gặt ở cánh đồng mường Lò thứ hai ( Nghĩa Lộ ) thì một con voi khổng lồ từ trên trời sổng chuồng xuống đất giẫm đạp giày xéo phá hoại ruộng mạ ruộng lúa. Ông bà bới đất đá ném chết con voi hóa thành núi Pú Trạng ngày nay. Đất đá dính ở kẽ ngón chân ngón tay, trong móng , ông bà rũ bỏ vung ra bốn phía thành đồi núi trùng điệp như bát úp miền Tây Bắc: Thanh Hóa, Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái.

Một hôm khác, ông bà đi xúc cá. Ông ở đầu nguồn suối dồn cá xuống. Bà ở cuối dòng suối hứng vạt váy được đầy cá, bà hất đổ lên bốn cánh đồng lớn Thanh Lò Than Tắc. Vì thế trước đây những cánh đồng này nhiều cá lắm. Một lần ông khùa chân vào một ghềnh khua cá, dính một cái dằm , rút ra được một cây gỗ lớn, đục đẽo được cái thuyền độc mộc bảy tay trèo mười tay lái . Chỗ ông khùa chân dính dằm ngày nay là hang Thẩm Lé Mường Lò Văn Chấn Yên Bái.

Thuở ấy cây lúa nương lúa nước của ông bà chăm bón bông to bằng cái đuôi voi, bông nhỏ bằng cái đuôi trâu, hạt to bằng cái đầu voi, hạt nhỏ bằng cái đầu trâu. Một hạt bổ ra nấu cơm lam hay gói bánh trăm người ăn no.

Đời sống của dân đang sung túc bình yên thì một con voi khổng lồ khác có tên là Ải Trạng Noi từ nhà Then xuống đòi nợ ông bà Ải Lậc Cậc. Ông bà tức bằng quả núi đá quát :

-Ta không vay , ta không trả gì hết!

Ải Trạng Noi nhảy bổ vào đánh ông bà trước, buộc ông bà phải đánh trả đũa tự vệ. Hai bên đánh nhau thật dữ dội. Chỗ đánh nhau quần đảo đất lồi, lõm xuống bây giờ là lòng chảo Mường Lò Yên Bái. Cuộc chiến không phân thắng bại, họ kéo nhau lên Trời yêu cầu Then phân sử. Trước Then, họ vẫn cãi nhau không ngớt. Then nổi giận bằng vòm trời, tóm cổ cả hai nhốt vào giỏ trời. Bà Ải Lậc Cậc cũng theo chồng lên Then hầu kiện. Từ đó ông bà không trở lại hạ giới nữa.

Xung quanh nơi hai Ải đánh nhau nổi lên những dẫy núi bao bọc Mường Lò chạy đến Trạm Tấu Yên Bái, Phù Yên Sơn La và các nơi khác. Ông bà Ải Lậc Cậc đi chưa kịp dạy bảo dân cách làm để có hạt lúa to như đầu voi đầu trâu. Vì thế ngày nay hạt lúa vẫn chỉ bé bằng bụng con ong mật mà thôi.

Đinh Văn Liễn kể- Ghi ở Trường TNDT Lũng Mu Mường Lò Yên Bái 1980

Thuở ấy, ông bà Ải Lậc Cậc đang cai quản trần gian, con người con vật đều khổng lồ. Cây cao đâm thủng cả trời. Người đi va đầu vào trời vỡ lở ầm ầm. Then tức giận bằng ngàn con voi điên, ra lệnh bầu trời rút lên thật cao, cho cây không đâm thủng cho đầu người không đụng tới. Then dùng sức lửa để hun chết người vật khổng lồ hạ giới, một ngày sai bảy mặt trời mở bảy đường nắng cùng bay qua thật thấp.

Lúc ấy ông bà Ải Lậc Cậc đang cùng con cháu hội xòe ở cánh đồng lòng chảo sông Nậm Rốm, đã sai một trăm thanh niên trai tráng khổng lồ đứng lên vai nhau ở bảy quả đồi cao quyết tử cho loài người quyết sinh, bắt từng mặt trời rực lửa ném xuống biển. Thế là sáu mặt trời bị bắt quăng xuống biển Đông, nước sôi lên sóng thần, khói mù trời, tắt ngấm. Một mặt trời trốn thoát bay vút lên cao như ngày nay.

Then sợ quá, vội vàng giáng trần, đàm phán với ông bà Ải Lậc Cậc tại sân hội xòe. Then nói :

-Trẫm giận dữ nên mất khôn. Trẫm sinh ra loài người và muôn vật mà lại muốn thiêu hủy đi thì nhẫn tâm quá. Trẫm xin lỗi đại gia đình Ải Lậc Cậc, bỏ qua cho trẫm, từ nay đừng nối người làm thang lên bắt mặt trời của trẫm và phá thiên cung. Trẫm cho phép kéo dài thời hạn sống của người khổng lồ vật khổng lồ thêm ngàn năm nữa.

-Then đã biết sai lầm và sửa sai lầm thì người và muôn vật hạ giới cũng không cố chấp nữa! Nhã ý tốt đẹp của Bệ hạ giành cho người vật hạ giới trường thọ nghìn năm xin đa tạ!

Nói rồi, ông bà Ải Lậc Cậc dẫn Then tham quan cái nỏ khổng lồ, dây nỏ bằng cái cột nhà, cánh nỏ dài ngàn sải tay bằng gỗ lim, thân nỏ chục người ôm dài ngàn sải bằng gỗ sến, mũi tên bằng cột nhà dài trăm sải đầu bịt vàng. Ông bà Ải Lậc Cậc nói :

-Đây là cái nỏ của người khổng lồ dùng để bắn mặt trời và các vì sao nếu Then còn ném chúng xuống trần gian gây thảm họa !

– Trẫm hiểu! Trẫm không lặp lại chuyện tức giận ấy nữa! Hạ giới cứ vui hưởng thái bình!

Ông bà Ải Lậc Cậc lại đưa Then đi thăm cánh đồng mường Thanh lúa tốt không kém lúa Thần Nông trên trời. Hạt lúa nếp to như đầu voi. Hạt lúa tẻ như đầu trâu. Then bảo:

-Người khổng lồ phải được ăn những hạt gạo to như thuyền thoi. Mùa gặt tự bò về nhà. Cây mía phải là những ống đựng nước ngọt không phải nhai hít nước nhả bã.

Nói rồi Then đọc thần chú cho chúng trở thành như thế ! Từ ấy cánh đồng mường Thanh biến thành cánh đồng mường trời cung cấp hạt lúa giống cây giống khổng lồ hơn nữa cho cả trần gian các mường.

Để ghi nhớ cuộc đàm phán hòa bình giữa trời và đất, tri ân với Then, ông bà Ải Lậc Cậc đổi tên mường Thanh thành mường Then lưu truyền đến ngày nay.

Cầm Ngọc Tú kể- Ghi ở Mường Lò 1980.

Thời đại Ải Lậc Cậc cây cỏ con vật con người đều khổng lồ. Giữa cánh đồng mường Then mọc lên một cây đa to lớn chưa từng có. Một người khổng lồ đi quanh gốc một năm trời mới được một vòng. Tán cao đụng trời che kín trần gian. Ánh sáng mặt trời mặt trăng không chiếu tới. Nắng chẳng đến mưa chẳng về. Mặt đất tối như bưng. Cây cỏ con người con vật dưới bóng cây đa khổng lồ không sống nổi, có nguy cơ chết hết.

Ông bà Ải Lậc Cậc cùng con cháu vác rìu ra chặt gốc đa trong một ngày không xong, sau một đêm thân gốc nó lại mọc như cũ. Ông bà Ải Lậc Cậc nghĩ ra kế cùng con cháu thay nhau chặt một phía liên tục suốt ngày đêm cho nó mọc không kịp và dùng dây chão buộc cành cho hàng vạn trâu voi kéo về phía chặt thì thế nào nó cũng đổ kềnh. Khi chặt được chín phần còn một phần, mọi người chạy xa gốc về phía lưng nó và hai phía sườn thì ra lệnh trâu voi kéo miết đi. Cây đa khổng lồ gẫy một tiếng “cấc” vang vạn lần tiếng sét kinh hoàng. Cây đa đổ xuống ào ào như vạn lần bão gầm. Tán đa cành to cành nhỏ giáng xuống đánh rầm một tiếng như trời sập. Cây cỏ con người con vật dưới tán của nó bị đè nát chết hết, kể cả voi trâu khổng lồ khi kéo nó đổ cũng không chạy thoát. Chỗ thân cây đa đổ lõm xuống sau khi mục nát trở thành một dòng sông tương truyền là nậm Ma, chỗ gốc thối rữa đi trở thành lòng chảo mường Thanh bây giờ. Cành nó giáng xuống núi đồi làm núi đồi võng xuống thành khe thành chóp nhấp nhô. Rễ nó tiêu biến thành suối và sông ngầm hang động nước khắp nơi.

Cây Đa mường Then chặt đổ, mặt trời mặt trăng lại chiếu sáng mặt đất , mưa nắng trở lại như xưa, cây cỏ muôn loài tái sinh, nhưng kỳ thay không còn khổng lồ như trước nữa. Số người vật khổng lồ ở phía lưng cây đa ấy sống sót rất ít. Sau khi ông bà Ải Lậc Cậc về Then kiện Ải Trạng Noi thì họ cũng biến mất trên trần gian. Thời đại khổng lồ chấm dứt.

Cầm Ngọc Tú kể- Ghi ở Mường Lò 1980

Ải Trạng Noi đánh nhau với ông bà Ải Lậc Cậc tàn phá hết các mường, con người con vật chết sạch. Ông bà Ải Lậc Cậc về trời kiện Ải Trạng Noi, không về trần gian nữa.

Then thả xuống trần gian chàng Tạo Cập và nàng Ý Kè làm vợ chồng để sinh ra kiếp người mới.

Tạo Cập Ý Kè lấy mường Then nay là mường Thanh làm đại bản doanh. Hai người đem hạt giống con giống từ trời xuống, nhờ gió Đông gió Tây và chín ngọn nước gieo hạt cỏ cây, lúa, ngô, đậu, khoai, bầu, bí và con giống muông thú đến khắp các mường. Chẳng bao lâu muôn vật lại phục sinh như xưa.

Tạo Cập Ý Kè cặp kè nhau như đôi uyên ương vui tuần trăng mật trong nhà sàn mười gian bốn mái vòm rùa lợp vàng tấm, hai thang sàn bằng vàng, một thang cho ông đi, một thang cho bà đi, do Rùa Vàng thiết kế và xây dựng, tọa lạc tại mường Then. Từ ấy người Thái ở nhà sàn mái khum mai rùa, lên sàn có hai thang, mái lợp cỏ tranh màu vàng đông ấm hè mát. Tại đây, Tạo Cập Ý Kè sinh một bọc trăm con 50 trai 50 gái. Vì là giống người Trời nên không phải bú mớm, chỉ ăn xôi nếp trong chõ gỗ trên nồi đồng dưới bếp lửa mà lớn nhanh như thổi, trí khôn như thần. Tạo Cập dạy 50 con trai làm tạo, biết quản lý mường, biết nung đúc công cụ vũ khí, luyện quân giữ mường, làm canh nông trồng trọt chăn nuôi. Ý Kè dạy 50 con gái biết lấy vỏ cây quả bông, nuôi tằm ăn tang kéo sợi, dệt vải, dệt thổ cẩm, hát khắp, đánh đàn tính tẩu, múa xòe, múa sạp, múa nón.

Trăm con trưởng thành, anh em thích nhau cho lập vợ chồng, rồi cho ra ở riêng. Mỗi cặp được cấp hai con voi, vốn liếng, đồ tư trang, bè mảng đi xây dựng lại các mường cũ ( Mường Ôm, mường Ai, mường Lò, mường Bo tè, mường Ác, mường Óc, mường Tè…) và tìm ăn các mường mới, thi đua mở đất mở nước trên khắp trần gian. Những cặp thích ăn cơm gạo nếp lúa nước với cá, đóng bè xuôi nậm Công sinh ra người Thái, người Lự, người Lào, người Khơ Me, người Xiêm La; xuôi theo nậm Ma , nậm Ta, nậm Tao xuống biển Đông thích ăn cơm gạo tẻ sinh ra người Kinh. Những cặp neo bè lại dọc các nậm hoặc chẳng cho voi đi nữa ở lại đồi núi lập mường ăn gạo nương gạo nước, măng nứa, quả chám, thịt hươu sinh ra người Xá ( Khơ Mú, Kháng, La chí, La Ha, Sinh Mun…) , người Mường, người Tày. Những cặp cưỡi voi đi ngược nguồn nậm Ma, nậm Nưa, nậm Công, nậm Na, Nậm Ta, nậm Tao sinh ra các tộc người Thái Hồng Đức, Thái Bạch man, Thái Thoán ô man, người Tây Di, Bắc Di, Nam Di, Đông Di. Cặp voi đến tận Tây Tạng sinh ra người Tạng người Miến. Cặp voi đến tận sông Trường Giang, núi Ngũ Lĩnh sinh ra người Nam man Thái Lự Choang, Giáy, Cao Lan, Tày Nùng Choang, Bố Y, Bách Việt, Miêu, Dao… Các cặp cưỡi voi đến củng cố các mường cũ tái sinh các họ Thái trắng Thái đen Lò, Quảng, Tông, Lường, Khun, Cầm… Cặp ở lại mường Then với cha Tạo Cập mẹ Ý Kè là tổ tiên người Lào , Lự, Thái Trắng Điện Biên Lai Châu Phông Sa lỳ và Mộc Châu .

Do đó các tộc người tộc họ tuy ở các mường đất khác nhau, nói tiếng Tày – Thái (Tày , Thái , Nùng, Giáy, Cao Lan, Lào, Lự, Bố Y), tiếng Kinh-Mường ( Kinh Keo , Mường), tiếng Môn Khơ Me-Xá (Kháng, Khơ Mú, La chí, La Ha, Sinh Mun), tiếng Tạng- Miến (Hà Nhì, La Hủ, Phù Lá, Lô Lô, Cống , Si La), tiếng Miêu- Dao (Mông, Dao, Pà Thén ) dù có khác nhau nhưng cùng là anh em máu đỏ da vàng con cháu ông bà người trời Tạo Cập Ý Kè sinh ra ở mường Then nước Văn Lang nghìn xưa.

Cầm Ngọc Thi kể- Ghi ở Trường TNDT Lũng Mu Mường Lò Nghĩa Lộ 1980

Chim Cú ăn mặt Trời ăn mặt Trăng

Mặt Trời mặt Trăng thay nhau chiếu sáng mặt đất cho muôn vật và con người sinh sôi nẩy nở.

Mặt Trời chiếu sáng ban ngày cho cây cỏ xanh tươi, con vật con người kiếm ăn dễ dàng, ban đêm đi ngủ dưỡng sức.

Mặt Trăng chiếu sáng ban đêm cho cây cỏ , con vật, con người làm ăn ban ngày mệt nhọc được mát mẻ ngon giấc.

Một số loài vật không ưa Mặt Trời chói lòa nóng bức, nên ban ngày tìm nơi dâm mát kín đáo hang hốc nằm ngủ, ban đêm Trăng trong gió mát mới đi tìm ăn. Một số loài vật làm ăn vụng trộm sợ ban ngày bại lộ phải đêm tối mới hoạt động.

Mặt Trời Mặt Trăng thay nhau chiếu sáng hết ngày qua đêm không được bình thường cho nên có khi ngày rất dài và đêm rất ngắn, ngược lại có khi ngày rất ngắn và đêm rất dài, có khi mặt trời làm nắng rất to, có khi mặt trăng làm sáng rất tỏ, lợi cho con vật này, lại hại cho con vật khác.

Những con vật ban ngày chói mắt thành mù, ban đêm nhờ bóng tối thì mắt sáng hơn đèn như Hổ, Mèo, Cầy, Cáo, Chuột, Dơi, chim Vạc, chim Cú… rất ghét Mặt Trời và cũng chẳng ưa Mặt Trăng vì cản trở sự săn bắt của chúng.

Năm ấy ngày quá dài, đêm quá ngắn và Trăng tỏ khiến các con vật làm ăn ban đêm mất mùa to. Hươu nai nhìn rõ bóng Hổ mà chạy biến. Chuột nhìn rõ chim Cú mà trốn tránh ngay. Cá nhìn thấy Vạc vung mỏ thì lặn càng nhanh. Thế là những con vật Hổ, Mèo, Cầy, Cáo, Chuột, Dơi, Vạc, Cú… đói bụng, mở hội nghị bàn bạc săn bắt ăn Mặt Trời, Mặt Trăng để báo thù. Hổ Mèo Cầy Cáo Chuột có sức mạnh nhưng lại không có cánh bay lên trời. Hổ nói:

-À uôm! Ta mà biết bay thì vồ ngay con thỏ cung trăng nhá nát!

-Ta có cánh thì xé xác con Ác Kim Ô lập tức!

Dơi Vạc Cú có cánh nhưng Dơi Vạc lại thiếu dũng cảm, nên hội nghị cử Cú Mèo Cú Lợn đi ăn Mặt Trời Mặt Trăng.

Thế là Cú Mèo Cú Lợn thay phiên nhau bay lên trời săn lùng bắt Mặt Trời Mặt Trăng để ăn thịt. Cú Mèo bé nhỏ quen bắt chuột nhỏ, nay bay lên trời bắt được Mặt Trời, Mặt Trăng nuốt không nổi, nên khoang miệng chỉ ngậm được một phần nhỏ hay bán phần . Vì thế Mặt Trời Mặt Trăng chỉ khuyết đen còn đa phần vẫn sáng. Chỉ khi Cú Lợn to lớn bắt được Mặt Trời Mặt Trăng mới nuốt lọt vào khoang miệng nên Mặt Trời Mặt Trăng đen toàn phần chỉ phát tán hoa ra ngoài. Mỗi lần Cú Mèo Cú Lợn ăn Mặt Trời Mặt Trăng thì những con vật làm ăn ban đêm reo hò nhảy múa làm cỗ ăn mừng. Ngược lại cây cỏ con vật con người làm ăn ban ngày thì lo ngại Cú nuốt mất Mặt Trời Mặt Trăng sẽ tắt nguồn sáng bèn kêu la ầm ĩ. Nhất là con người mang cung nỏ súng ống bắn Cú và khua chiêng gõ trống ầm ầm làm cho Cú Mèo Cú Lợn hoảng sợ vội vàng nhả Mặt Trời Mặt Trăng ra, lại sáng giữa trời.

Do phải săn đuổi đường xa, nên sau nhiều năm, Cú Mèo Cú Lợn mới đến chu kì bắt được và ăn Mặt Trời Mặt Trăng.

Từ ấy mỗi lần có nhật thực nguyệt thực khuyết phần hay bán phần người ta bảo cú mèo ăn mặt trời ăn mặt trăng rồi, khi có nhật thực nguyệt thực toàn phần người ta bảo cú lợn ăn mặt trời ăn mặt trăng rồi. Lúc nhật thực nguyệt thực tan người ta lại bảo chim cú nhả mặt trời mặt trăng ra rồi.

Cầm Ngọc Thi kể- Ghi ở Mường Lò 1980

Thời đại ông bà Ải Lậc Cậc, con người con vật đều khổng lồ. Thời ấy con người con vật chưa biết hòa bình chung sống mà ăn thịt lẫn nhau.

Một con Diều Hâu khổng lồ thành tinh. Then cho nó ăn thịt chim nhỏ, chuột sóc phá hoại mùa màng. Then cho người ăn hoa quả củ hạt. Nhưng người cậy có ông bà Ải Lậc Cậc ưu ái bảo lãnh, nên ăn thịt tất cả muôn loài cây cỏ, cá mú, chim muông, thú vật không tha một loài nào. Then nổi giận lôi đình sai con Diều Hâu Tinh được phép ăn thịt cả người và thú nuôi của người như voi trâu bò ngựa dê…Do đó sẩy ra cuộc chiến tranh giữa người và Diều Hâu Tinh.

Diều Hâu Tinh thân hình to như quả núi. Hai cánh vỗ thành bão lốc bay cả người từ núi này sang đồng kia. Mỏ nó mổ một chưởng đớp cả đàn voi vào diều. Người khổng lồ không vũ khí, không nơi ẩn trốn, một cú đớp của nó nuốt hàng trăm người. Hai bàn chân móng sắc quắp cả một đàn trâu bò và đoàn người bay lên không trung rồi thả xuống đất cho tan xương nát thịt. Người và vật nuôi phải chạy trốn vào hang đá và đào hầm ẩn náu ban ngày, ban đêm mới ra làm ăn thật khổ sở.

Loài người khổng lồ chưa có cách gì diệt Diều Hâu Tinh đã cầu cứu ông bà Ải Lậc Cậc. Ông bà Ải Lậc Cậc nói :

-Diều Hâu Tinh là con chim ăn thịt khổng lồ của Then khó trị lắm. Các con phải biết đoàn kết hy sinh dũng cảm và khôn khéo mới giết được nó. Các con phải có vũ khí là cây nỏ cây cung mũi tên khổng lồ bịt sắt nhọn hoắt và những cây giáo khổng lồ và dài. Hàng vạn người dàn trận tập trung bắn đâm nó. Nhử nó vào nơi hẻm mắc kẹt mà đánh mới thắng.

Loài người làm theo lời dạy của ông bà Ải Lậc Cậc. Loài người cử một thủ lĩnh tài ba chỉ huy, chọn một vạn tay cung nỏ, một vạn tay giáo và một ngàn người to béo làm mồi nhử Diều Hâu Tinh vào khe núi mà nó chui không lọt để diệt.

Đêm hôm ấy hai vạn chiến sỹ cung nỏ giáo dài ngụy trang cây cỏ nằm ở hai đầu khe núi hẹp. Sáng ra người chỉ huy đứng trên đỉnh núi cao phát hiện Diều Hâu Tinh bay tuần tiễu trên bầu trời liền thổi một tiếng tù và thì một ngàn người tay không từ cửa núi xông ra khiêu khích. Diều Hâu Tinh phát hiện tức thời sà xuống mỏ mổ và chân thò vuốt quắp thì đoàn người chạy vào trong khe núi cho nó đuổi theo. Vì mê mải tham mồi nhử, Diều Hâu Tinh không chui lọt mắc kẹt giữa hai quả núi, tiến thoái lưỡng nan. Người chỉ huy thổi một tiếng tù và tiếp theo, tức thì hai vạn chiến sỹ cung nỏ giáo dài cùng bắn và đâm vào con chim ác tới tấp. Đôi cánh nó không vỗ được. Mỏ xỉa chân quắp được một số người mồi hy sinh. Nhưng toàn thân nó thì chi chít những mũi tên cắm phập và giáo đâm ngập cán. Máu nó tung tóe đỏ lòm tuôn như thác. Hai vạn chiến sỹ tắm máu kẻ thù. Sau một ngày Diều Hâu Tinh giẫy đạp rung trời chuyển đất thì nó chết cứng. Lũ côn trùng khổng lồ bâu đen kịt xơi thịt và đẻ trứng. Mấy giờ sau ròi bọ nở làm cỗ xơi sạch trơn Diều Hâu Tinh để lại bộ xương khổng lồ biến thành đá.

Nghe tin Diều Hâu Tinh bị diệt, Then tức điên lại sai Ải Trạng Noi giáng trần đánh nhau với ông bà Ải Lậc Câc, làm cho thời đại khổng lồ đi vào quá vãng.

Cầm Ngọc Thi kể -Ghi ở Mường Lò 1980

Bản kia có chàng mồ côi ở một mình trong một túp lều cỏ gianh. Hàng ngày chàng ra suối câu cá kiếm sống. Chỗ chàng ngồi câu là một phiến đá lâu ngày bị lõm xuống và in vết hai bàn chân.

Một hôm chàng ngồi buông cần từ sáng tinh mơ đến chiều tà không một con cá nào cắn câu. Chàng định trở về nhưng lại nấn ná ngồi câu thêm chút thời gian nữa xem sao? Bỗng phao câu chìm, chàng vung cần lên được một con rùa màu vàng bằng cái bát bỏ vào giỏ mang về nhà. Đói bụng chẳng có gì ăn, chàng nói một mình :

-Hay là ta nướng con rùa này làm bữa vậy!

Từ trong giỏ phát ra tiếng nói :

-Ối ối! Xin chàng đừng nướng tôi! Tôi là cháu của cụ Rùa Vàng đã xây nhà sàn vàng bốn mái rùa cho ông bà Tạo Cập Ý Kè ở mường Then ngầy xưa ấy. Cụ tôi cũng giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa theo kiến trúc quân sự Thái viềng chiềng và hiến vuốt rùa làm lẫy nỏ thần phá giặc Triệu Đà giữ thành. Tôi được cụ truyền cho nhiều phép mầu và bảo tôi cắn câu của chàng để giúp chàng mọi việc cần thiết . Nếu chàng cần một bữa ăn khỏi đói thì tôi giúp ngay bây giờ! Nhưng chàng hãy thả tôi ra thì mới có điều kiện làm được cơm canh. Tôi không chạy trốn đâu xin chàng đừng sợ.

-Nếu thật như thế thì ta không ăn thịt rùa vàng nữa!

Nói rồi chàng thả rùa vàng ra. Rùa bảo :

-Chàng hãy nhắm mắt lại!Khi tôi bảo mở mắt ra thì sẽ có một mâm cỗ ăn ngay!

Chàng làm theo. Được một lát thì rùa vàng xít xoa nói :

-Cơm nước đã xong. Xin mời chàng xơi !

Chàng mở mắt ra thì thấy có xôi nếp một đĩa lớn và một con cá sỉnh nướng thơm phức với bột chấm chéo mặn cay chua ngọt. Chàng sáng mắt lên, ngỡ là mơ, chàng nói : ” Cảm ơn rùa vàng!” rồi ngồi véo xôi ăn rất ngon miệng.

Ăn xong chàng kể cuộc đời côi cút cơ cực từ khi bảy tuổi đến nay cho rùa nghe. Rùa nói :

-Chính vì thế tôi sẽ giúp chàng được đền bù xứng đáng có hạnh phúc về sau. Bây giờ chàng hãy ngủ thật ngon. Sáng mai tỉnh dậy sẽ biết khổ hay sướng?

Quả nhiên mặt trời lên, chàng thức dậy thấy mình không nằm trong lều cỏ mà trên sập gỗ lát bóng lộn giữa ngôi nhà sàn bốn mái rùa rộng lớn bằng ngói gỗ pơ mu, hai thang sàn bằng gỗ đinh, cột xà kèo đòn tay sàn đều bằng tứ thiết đánh bóng, với đồ đạc tiện nghi không thiếu thứ gì, nhà tạo mường cũng không bằng. Nhìn ra thấy vườn ruộng xanh tốt mênh mông, chuồng trại nuôi đầy cầm thú, người lao động đang làm việc tấp nập. Chàng ngơ ngác toan bỏ chạy đi thì rùa vàng nói :

-Cụ tôi ban cho chàng cơ ngơi này đó. Từ nay chàng là ông chủ. Chàng chỉ huy mọi người giúp việc làm ăn sung túc bằng nghề trồng trọt chăn nuôi không phải câu cá làm tổn hại sinh mạng thần dân thủy phủ nữa. Chàng có ưng không? Chàng còn muốn gì nữa thì hãy bảo tôi!

Chàng chưa hết run vì sung sướng nói :

-Ta cảm ơn cụ Rùa Vàng và nhà ngươi cho ta đổi đời rồi! Với gia sản như thế này thì ta đã mãn nguyện lắm rồi. Ta chỉ mơ ước có một người bạn đời trăm năm chung thủy sinh cho ta những đứa con ngoan hiếu học. Gia cảnh của ta được bình yên không bị thiên tai giặc giã ma quỉ xâm hại. Ta sống những ngày tới có ý nghĩa tốt đẹp hơn! Ta muốn rùa vàng ở cùng ta trọn đời.

-Những mong ước của chàng đơn giản như vậy ta sẽ giúp được!

Hôm sau chàng ăn mặc sang trọng để rùa vàng trong túi ra chợ. Chàng trông thấy năm cô gái xinh đẹp mặc áo cỏm trắng, váy đen, đầu đội khăn piêu, mỗi cô thắt một loại thắt lưng màu hồng, xanh, gụ, vàng, tím. Cô nào cũng đeo dây xà tích duyên dáng đáng yêu quá. Chàng nói thầm với Rùa Vàng:

– Ta chọn cô gái thắt lưng hồng làm vợ được không?

– Không được! Cô ấy mệnh bạc!

– Ta chọn cô gái thắt lưng xanh được không?

– Không được! Cô ấy chỉ thích của cải nhà chồng mà không thích chồng.

– Ta chọn cô gái thắt lưng gụ được không?

– Cô ấy chỉ hay lam hay làm về sau thiếu nữ tính!.

– Thế thì ta chọn cô thắt lưng tím vậy ?

– Được đấy! Cô ấy đẹp người đẹp nết có thủy chung với chồng.

Thế là chàng nhờ bà mờ làm mối lấy được cô gái thắt lưng tím về làm vợ cùng nhau quản lý gia đình trăm năm trọn vẹn hạnh phúc.

Năm ấy vừa sang , rùa vàng bảo:

-Trời sắp hạn rồi lụt to! Muốn mùa màng không mất thì phải chống hạn chống lụt. Chàng cho đắp phai đào mương và làm cọn dẫn thủy nhập điền, đắp bờ cao ngăn nước lũ vào ruộng.

Chàng nghe theo đã vận động dân bản cùng làm phòng chống hạn lụt kết quả tốt nên nhà mình nhà người đều được mùa. Dân các bản khác chưa biết nên lâm nạn đói. Vợ chồng chàng mồ côi đem lúa bắp bán cho nhà giầu, phát chẩn cứu đói cho nhà nghèo các bản mất mùa, do đó không ai bị chết do thiếu cơm cháo.

Một hôm Rùa Vàng bảo chàng:

-Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan. Hãy xây dựng gia binh phòng ngừa giữ an ninh gia đình.

Vợ chồng chàng liền tổ chức đơn vị tự vệ gia và tổ tình báo gia. Chẳng bao lâu sau, thấy gia đình chàng mồ côi giầu sang phú quí hơn cả nhà quan, tạo mường ghen ăn ghét ở, cho người đem thuốc phiện quốc cấm ban đêm lẻn vào để trong kho lúa để làm hại. Nhóm gia binh canh gác đã bắt được tội phạm gắp lửa bỏ tay người, nộp lên quan chi châu. Thế là gia đình chàng mồ côi thoát họa. Tạo mường bị cách chức và bị phạt vạ.

Hết dương loạn đến âm loạn. Rùa vàng gọi vợ chồng chàng mồ côi bảo :

-Ma quỉ đang sổng chuồng làm hại người trần. Hãy lập miếu thờ Thổ Công, Thần linh bản xứ, Thần Long, Thần Mạch, Thần Táo quân và lập bát nhang thờ Gia Tiên để nhờ lực lượng tâm linh phù trợ xua đuổi ma quỉ ra khỏi khu vực để giữ bình yên cho người và vật trong gia đình.

Vợ chồng chàng mồ côi nghe theo nên trong nhà không bị ma làm quỉ ám, mọi người bình yên vô sự. Những người khác không tín ngưỡng cho là mê tín dị đoan thì lâm bệnh tâm linh ma làm, quỉ ám, lệch mồm lác mắt, mặt quay đằng sau, gáy quay đằng trước, mắt nhìn dây thừng ra rắn, nhìn người ra lợn rừng, bốc đá bỏ mồm nhá lốc cốc, nhảy xà ngang sang xà dọc, đàn bà vắt vẻo trên khau cút nóc nhà… Lúc bấy giờ mới tin có tâm linh quỉ phạt ma hành phải nhờ thầy cúng mới được bình thân.

Năm vợ chồng chàng mồ côi tròn trăm tuổi về Then thì Rùa Vàng về Thủy Phủ với cụ Tổ. Con trai con gái chàng Mồ Côi nhớ ơn Rùa Vàng đã cho tạc tượng đá và lập miếu thờ. Trong nhà như vẫn có Rùa Vàng giữ an ninh cho gia đình trừ được ma quỉ dương gian và âm gian.

Từ ấy người Thái Tây Bắc có tục thờ Rùa Vàng.

Cầm Ngọc Thi kể- Ghi ở Mường Lò 1980

Sự tích lễ hội Xa nặm phôn (cầu mưa)

Năm ấy trời làm đại hạn. Ngày nắng như lửa đốt. Đêm trăng quầng vàng quầng đỏ. Đồng ruộng nứt nẻ. Cây rừng cây trồng khô héo. Con người con vật có nguy cơ chết đói chết khát.

Tạo bản nọ sắm lễ cúng miếu thờ Rùa Vàng, lầm rầm khấn :

-Không biết trên trời có chuyện gì mà Then để Thần Nắng và Thần Hạn Hán hoành hoành dữ quá. Thờì vụ không gieo cấy được. Mùa màng thất bát. Con có lòng thành cúi xin Rùa Vàng can thiệp với Then cho Thần Mưa đem Rồng phun nước trời xuống để thiên hạ có nước làm ăn, cứu người cứu vật thoát nạn đói khát. Xin đa tạ!

-Để Then cho nước làm ăn thì tạo bản phải tổ chức lễ hội Xa nặm phôn cầu mưa. Khi nào thấy mặt trăng có quầng vàng quầng đỏ trong năm thì hãy bảo dân bản làm thế này… thế này…Nguyện vọng của cả cộng đồng dân bản mới thỉnh đến Then thì ngài mới cho Thần Mưa làm việc.

Nói rồi Rùa Vàng thôi hiện hình. Tạo bản làm theo. Tạo tập họp trai thanh nữ tú đẹp người đẹp nết, chưa vợ chưa chồng, cha mẹ song toàn, có đức tin lập thành một đoàn ăn mặc đẹp, mang theo thúng, sọt, dậu, ông bắng, khoác áo tơi đội nón tát đi theo nhịp trống chiêng mõ đến những gia đình có người già uy tín đức độ con đàn cháu đống trong bản. Khi đến sân đoàn trai gái gõ ống bắng thúng dậu đồng thanh hát:

Nghe tiếng cầu mưa, ông bà già bưng ra thúng hạt bông hạt gạo hạt ngô vung vãi làm mưa khắp đoàn người. Những hạt bông hạt gạo hạt ngô rơi vào thúng vào dậu lộp bộp. Đoàn người nhặt hết những hạt như mưa vào các đồ đựng rồi kéo nhau lên nhà sàn. Các con cháu của ông bà già lấy ống bắng nước vẩy ướt khắp mọi người và hát đáp lại :

Cứ như thế đoàn người đi đến nhà này nhà khác làm sôi động bản mường. Những “lộc mưa trời” nhận được của các nhà: gạo ngô hoa quả rượu… đem về nhà tạo. Tạo cho dùng vào việc làm cỗ cúng Then cầu mưa rồi mời các thành viên dự lễ hội Xa nặm phôn ( cầu mưa) dự tiệc.

Việc làm đó đã khuấy động cả cộng đồng bản chung một lòng thành cầu mưa đã động đến trời. Then liền phái Thần Mưa làm nhiệm vụ. Thần Mưa sai Rồng phun mưa khắp thiên hạ. Người bản cầu được ước thấy có đủ nước trồng cấy, mùa màng bội thu, con người con vật thoát họa hạn hán đói khát, đời sống ổn định phồn sinh phồn thực.

Từ ấy Lễ hội Xa nặm phôn (cầu mưa) trở thành phong tục văn hóa nông nghiệp của người Thái còn truyền đến ngày nay .

Cầm Ngọc Thi kể- Ghi ở Mường Lò 1980.

Ngày ấy trên sân nhà Then ở mường Trời có con gà trống đỏ cựa đồng. Gà gáy năm sáu lần cựa rụng. Rụng xuống nước thành cá đuôi đỏ. Rụng xuống vườn thành hoa mai trắng, hoa đào tươi. Rụng xuống đỉnh núi thành trăng lưỡi liềm vàng đầu tháng, trăng tròn sáng giữa tháng và tối như tổ tò vò đêm cuối tháng.

Tháng giêng hoa gạo hé nụ như đầu dùi trống. Tháng hai hoa tòng nụ như cựa gà. Tháng giêng hai trời mở sấm xuân. Mưa xuân lấm tấm dìu dịu. Tháng ba tư dần dần sấm động. Tháng năm lá mạ buông mầm dài vị chát. Tháng sáu chim khướu tụ hội trên cành ríu rít ca. Tháng bảy nắng gắt mưa dai lũ lụt. Tháng tám sấm sét mưa to gió lớn. Tháng chín sấm tít trên cao. Tháng mười một chạp ông sấm đi ngủ. Nếu có sấm nhẹ thì đó là ông sấm ngáy.

Năm ấy trời muốn sấm mồng một tháng giêng, tết sợ đánh chết vía trâu, sấm mồng hai tết sợ đánh chết vía lúa, sấm mồng chín sợ đánh chết vía bà một ông mo, nên muốn chọn ngày khác là sấm lành.

Tháng tư năm ấy các tiên nữ nàng Ặc nàng Nè lấy nước thần tưới cho rễ cây si cây đa mường Trời quấn chặt họng trời buộc thít con nín, làm tắc họng trời, không cho gầm thành sấm sét, nên chưa có mưa to. Mường trần gian ruộng khô nứt nẻ, cây cối héo vàng mong mưa.

Chàng Cập chàng Cò lưỡi dài bằng quả núc nác, mắt to bằng quả ổi trâu. Họ giã gạo làm lương ăn, đeo vào lưng túi gạo trắng, đeo lên vai lưỡi rìu sáng loáng, bắc thang lên mường Trời ngắm xem họng trời. Chàng Cập phóng ba mươi nhát rìu Thái, chàng Cò chặt ba mươi nhát rìu Xá, chém rễ cây quấn họng trời, nàng Ặc nàng Nè mới cho trời gầm sấm sét đùng đoàng.

Nghe tiếng sấm cây cỏ, muôn vật , loài người vùng lên nhẩy múa. Chào mào, chèo bẻo đậu cành cao, voi ngựa đua nhau cúi đầu gặm cỏ, ếch cằm ngắn ngồi đồng kêu vang, dọn ổ hang hứng tai nghe sấm. Rau cỏ mọc ven suối xanh um. Rau hác mọc báo mùa gió bão. Măng đắng nghe sấm đua nhau mọc cao.

Chim khoàng khó khoàng khoái hòa cùng tiếng sấm hót gọi mùa. Người người nhanh tay sửa cày sửa bừa làm ruộng làm nương.

Quan tạo trong mường, người già dưới bản bàn bạc cho con trai con gái vào rừng hái măng xuống suối bắt cá, chuẩn bị đập trâu mừng sấm về.

Trời như trút nước xuống mường trần gian, sông suối tràn đầy, các mô đất lở thành bãi bằng. Ven đồng thành sóng trắng, giữa đồng thành sóng bạc. Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa cùng tiếng sấm reo vui.

Theo Lường Pàn và Minh Khương

Tổ tiên người Thái thuộc ngành nhân chủng da vàng hệ ngôn ngữ Tày- Thái phía Tây là người Tây Âu Việt thuộc địa bàn Tây Nam Trung Quốc, Bắc Lào và Tây Bắc Việt Nam. Nơi phát tích là lưu vực sông Đà và sông Hồng thuộc các bộ Kỳ Hưng, Ai Lao, Tây Vu, Tân Hưng nước Văn Lang xưa. Phía Tây giáp nước Điền Việt, phía Bắc giáp nước Ba Thục, phía Đông giáp Bộ Võ Định, phía Nam giáp Bộ Việt Thường .

Người Thái cổ là thổ dân miền trung du, thượng du khu Tây Bắc nước Văn Lang, là đất tổ của Thục Phán dựng nước Âu Lạc khi biển lùi.Tương truyền Thục Chế Thục Phán là người Ô man Thái đen quê ở mường Ác Bộ Tây Vu.

Tổ tiên người Thái lập mường đặt tạo ở các thung đồng ven bờ thượng lưu đến hạ lưu chín con sông nậm Công, nậm Ma, nậm Tà, nậm Tao, nậm U, nậm Nua, nậm Na, Lan Thương, (Vân Nam) Trường Giang. Đó là các mường Ôm (mường Ẵm) mường Tum Hoàng cách Lai Châu một tháng đường đi ngựa, mường Lò trên sông Nậm Na Vân Nam, mường Óc mường Ác, mường La ( Bộ Tây Vu), mường Bo tè, mường Lương mường Bo Hé ở Phông sa lì và Síp song Pa Na ( Bộ Ai Lao ), Mường Then Mường Thanh, mường Bum, mường Luân, mường Tè ( Bộ Kỳ Hưng và Tân Hưng), Mường Lò Nghĩa Lộ, mường Than, mường Tắc, mường Bin, mường Cang, mường Lư ( Bộ Tân Hưng)… Người Thái ban đầu có 5 họ Lò, Lường, Quảng, Tông, Khun, sau sinh ra nhiều họ khác, sống bằng nghề hái lượm, săn bắt, trồng trọt lúa nương lúa nước, sính ăn gạo nếp, gạo tẻ nuôi lợn, lúa tẻ nuôi gà, để cỏ mọc chăn nuôi trâu voi, dệt vải, sở trường dệt thổ cẩm, nung đúc đồ sắt đồ đồng, dựng nhà sàn mái rùa, hát khắp , múa xòe, thổi pí pặp. Họ thì nhuộm răng đen. Họ thì dát răng vàng. Họ thì dát răng bạc. Họ thì xăm chân, họ thì xăm mặt để làm đẹp. Trang phục phụ nữ theo hai màu y phục đen và y phục trắng. Do đó gọi là Thái Đen (Tay đăm), Thái Trắng (Tay khao). Thái đen có tục hỏa táng.

Từ khi có chữ, Thư tịch Hán ghi người Thái là tộc Man di, Hắc xỉ man, Kim xỉ man, Bạch xỉ man, Bạch di, Bách di, Bãi di, Bặc di, Bạc di, Lão , Sinh Lão, Man Bạch Y ( Thái trắng), Bộc, Thoán ô man (Thái đen).

Tổ tiên người Thái đấu tranh tự nhiên và đấu tranh xã hội thăng trầm qua nhiều giai đoạn để tự chủ tự cường tự tôn dân tộc. Họ đặt tạo xưng vua ở các mường lớn tiến tới lập quốc.

Tương truyền cháu ba đời của Thần Nông là Đế Minh giáng hạ dạy dân da vàng trồng lúa nước lúa nương và canh cửi lấy Nghĩa Lĩnh Sơn Ngã Ba Hạc Tam Giang làm đại bản doanh. Trong chuyến du sơn Thượng nguồn nậm Tao,Đế Minh đã gặp sơn nữ Bạch Y Man ở núi Vụ Tiên lấy làm vợ đưa về Nghĩa Lĩnh mở trường Minh Nông ở Kẻ Lú. Tại Nghĩa Lĩnh , Sơn nữ Vụ Tiên đã sinh ra ba người con trai là Lộc Linh Đế Nghi, Lộc Tục Kinh Dương Vương và Đế Lai. Lộc Linh Đế Nghi và Đế Lai cai quản Bắc Quốc từ Bắc Trường Giang đến Nam sông Hoàng Hà. Lộc Tục Kinh Dương Vương cai quản Nam Quốc từ Nam sông Trường Giang đến Ngàn Hống sông Rum. Vậy là một sơn nữ Thái đã kết duyên với chàng trai cháu Thần Nông của Then để sinh ra họ Hồng Bàng . Con trai Lộc Tục là Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ sinh bọc trăm trứng nở trăm con. Trong 49 con theo mẹ lên núi có những con cai quản đất phát tích của người Thái cổ làm chủ các Bộ Kỳ Hưng từ Nậm Ma đến Nậm Tà, Bộ Tân Hưng từ Nậm Tà đến Nậm Tao, Bộ Ai Lao từ Nậm Nua đến Nậm Công , Bộ Tây Vu từ sông Lan Thương đến Hồ Đại Lý.

Thời kỳ vua Hùng dựng nước Văn Lang, người Thái bản địa là chủ nhân của các Bộ Tây Bắc: Kỳ Hưng, Tân Hưng, Ai Lao, Tây Vu cùng với Bách Việt chung một nhà nước Hùng Vương giữ gìn lãnh thổ từ Nam Trường Giang đến Ngàn Hống. Bộ chủ Thái -Tày Ai Lao Tây Vu sáp nhập là Thục Chế Thục Phán cai quản vùng đất nay là Bắc Lào, Đức Hồng và Síp soong pa na (Vân Nam). Thục Chế là cháu chắt nàng Sa Nhất sơn nữ Thái trắng kết duyên với Lang Hùng thứ 36 Bộ chủ Tây Vu đầu tiên. Tương truyền cha Thục Chế là con rể vua Hùng Tạo thứ 15. Thục Chế sinh con lấy chức danh thủ lĩnh quân đội Thái (túc phắn) đặt tên là Thục Phán. Với ý thức tự chủ tự cường dân tộc Thái rất cao, hai cha con Thục Chế Thục Phán đã phát động cuộc chiến tranh Hùng – Thục, giành quyền quốc chủ chống Tần, tuy thất bại, nhưng được vua Hùng Duệ nhường ngôi cho Thục Phán. Thục Phán xưng là An Dương Vương lập nước Âu Lạc đóng đô ở Cổ Loa. Vậy là từ Tây Thiên Cổ Sắc thủ phủ Tây Vu, Thục Phán đã mở đất mở nước tới Cổ Loa Klủ trung tâm quốc gia mới hùng mạnh. Thành Cổ Loa kiến trúc viềng chiềng che cuông che tó vòng trong vòng ngoài chính là kiến trúc quân sự Thái mà trước đó Thục Chế đã xây thành Sam Mứn nay vẫn còn ở Điện Biên. (Vấn đề Vua Thục truyền thuyết và thần tích là người Thái-Tày cổ chủ Bộ Tây Vu con rể nhà Hùng, một chi họ Hùng Vương, Sách Việt sử lược của Lê Văn Hưu tồn nghi là người Ba Thục, Lê Văn Tân dựa vào tiểu thuyết hư cấu phi lịch sử của Lê Sơn cho là người Tày ở Cao Bằng, Bùi Thiết, Đinh Văn Nhật cho là người Tày phát tích ở Lan Đình, Trấn Yên, Yên Bái ).

Sau khi Âu Lạc mất về Nam Việt Triệu Đà, Bộ Ai Lao Tây Vu còn gọi là Ai Lao Di Tây Thục vần tồn tại cho tới đời Đường mới mất về nhà Hán. Năm 110 TCN Tây Vu Vương cháu Thục Chế đã hưởng ứng Lữ Gia phục quốc Lạc Hồng đem quân đánh Lộ Bác Đức.

Gián điệp Hán đóng vai sứ giả tới đất Thái Hồng Đức và Síp soong pa na đều bị Thục Chế, Thục Phán, Tây Vu Vương và con cháu họ giết chết.

Sau khi nước Nam Việt thuộc về Hán, phần đất Âu Lạc nhà Hán chia thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Con cháu Nhà Triệu sống sót lập nước Nam Chiếu từ Bộ Việt Thường qua bộ Ai Lao đến phía Tây Bắc Bộ Tân Hưng xưa (Nam Vân Nam) gồm sáu chiếu. Nhiều họ Thái trong lãnh thổ đã theo Nam Chiếu chống Hán.

Thời Đường họ Thái Hắc xỉ man lập nước Mãng Man xưng vua Mãng Chiếu gồm 10 Bộ lạc xưng danh Mãng Nãi Đạo bài Hán.

Tại Giao Chỉ người Thái không khuất phục nhà Đường. Lý Trác người Hán làm Kinh lược sứ An Nam hà khắc tư lợi, một đấu muối đổi lấy một con trâu, người Bạch Man Di bất bình liên minh với Nam Chiếu, tự xưng là Bạch Y Mệnh Lệnh Quân đánh An Nam đô hộ phủ thiêu hủy thành Tống Bình ra tro bụi.

Sau đó nhà Đường dồn hết binh lực lần lượt thôn tính Nam Chiếu, Ai Lao Di Tây Thục (Bộ Ai Lao Tây Vu của vua Thục xưa), Mãng Man và nước Thừa Tượng (Điền Quốc).

Phần lớn người Thái không chịu làm nô lệ nhà Hán đã thiên di sang phía Tây Nam lập quốc xây dựng nhà nước Thái Shan ở Myanma thế kỷ 10. Một phần thiên di theo sông Mê Công xuống phía Nam lập nước Lạng Sạn ở Lào, Ayuthawa, Sukhôtai, La Na ở Thái Lan thế kỷ 13-14.

Trên địa bàn Tây Bắc Việt Nam hiện nay Người Thái trắng Bach Y Man là thổ dân bản địa ở Lai Châu, Điện Biên, Mộc Châu, người Thái đen là Thái Thoán Ô man từ Vân Nam (Bộ Tây Vu xưa) theo nậm Tao thiên di tới Mường Lò Nghĩa Lộ, rồi sang Sơn La và lên Lai Châu.

Người Thái vốn có nền văn minh sớm, lập mường đặt tạo , có văn tự, có lịch riêng, thời đại Hùng Vương đã góp phần xây dựng nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ còn để lại thạp đồng Đào Thịnh , Hợp Minh Yên Bái nổi tiếng. Có thể chủ nhân Thạp đồng Đào Thịnh là của một thủ lĩnh Thái Đen vì trong thạp đựng tro than người chết được hỏa táng. Còn Thạp đồng Hợp Minh đựng hài cốt trẻ thơ có thể chủ nhân là người Thái Trắng theo tục cải táng.

Qua hai thời kì tiền sử Pang tạo to mường (Tạo tìm mường) và Pang tạo kin mường (Tạo ăn mường) người Thái Cổ có công lớn trong sự nghiệp mở mang cõi bờ Văn Lang tới ngọn nguồn các sông Mê Công, sông Mã, sông Đà , sông Thao, hồ Đại Lý và chung biên giới với nước Ba Thục của người Ba Di.

Trong tiến trình lịch sử phát triển, người Thái một mặt hợp tác anh em với người Xá ( 10 giống Xá : Kháng , La Chí, Khơ Mú, Xinh mun…) và người Mường người Kinh với tinh thần “Xá Lùng Keo áo” (Xá anh, Kinh em chú), giao lưu kinh tế văn hóa ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau; một mặt tranh giành đất đai lập mường và quyền lực lập tạo đứng đầu các tộc người Tây Bắc Văn Lang, Âu Lạc và Đại Việt sau này.

Tên tuổi những người anh hùng huyền thoại thời đẻ đất đẻ nước như ông bà Ải Lậc Cậc, Tạo Cập, Ý Kè, Tạo Tum Hoàng, Tạo Xuông , Tạo Ngần vĩ đại sống mãi trong lòng dân tộc Thái tới muôn sau.

(Tổng hợp từ nhiều tài liệu)

Nàng là cô gái Thái Trắng xinh đẹp như tiên trên trời. Một hôm nàng xuống tắm ở ngọn sông Nậm Tao dưới hồ Đại Lý nay là châu tự trị Hồng Đức Vân Nam (Trung Quốc) thì chân ngọc của nàng đá phải cái củi chìm. Từ ấy nàng có bầu. Dân bản nguyền rủa ruồng rẫy nàng là kẻ không chồng mà chửa. Sau gần một năm nàng không đẻ ra con mà một bọc mười quả trứng. Lúc bấy giờ bản làng mới cho là sự lạ không ghét bỏ nàng nữa.

Mười quả trứng nàng đặt trên bờ sông nơi nàng tắm, một con Rồng bò lên tức thì trứng cùng nứt vỏ, ùa ra mười chàng trai vươn vai thành tráng sỹ oai phong lẫm liệt cúi lạy con Rồng đồng thanh nói:

Từ hôm ấy con Rồng ngày nào cũng bò lên bãi sông vui chơi với mười con. Nhưng chỉ có người con trai út dũng cảm dám ngồi lên lưng Rồng bay lên trời lặn sông Thao, lướt sóng hồ Đại Lý. Con rồng dạy cho các con văn võ song toàn và các phép cai mường quản quốc.

Một hôm con Rồng bay về trời đã truyền cho người con út thông minh dũng cảm làm vua tiểu quốc Thái Ai Lao Di Tây Thục tương truyền là Bộ Ai Lao Tây Vu thượng nguồn Thao nước Văn Lang xưa. Con Rồng chính là bộ chủ là lang Hùng thứ 36 con trai của Lạc Long Quân Âu Cơ.

Vua Ai Lao Di Tây Thục xây dựng đất nước hùng mạnh, dùng voi cày ruộng và đánh giặc, biết đúc đồng chế tạo vũ khí nhạc khí, quân đội tượng binh, kị binh và bộ binh rất thiện chiến, được các vua Hùng phong là phên dậu vững chắc của Tây Bắc Văn Lang. Để thắt chặt quan hệ với nhà nước Hùng Vương, đời bộ chủ nào cũng là con rể của các vua Hùng nước trưởng.

Nàng Sa Nhất trở thành Thái Hậu của tiểu quốc Ai Lao Di Tây Thục phong cho 9 người anh cai quản chín châu đôi bờ sông Thao từ biên Bộ Tân Hưng đến hồ Đại Lý. Nhưng rồi thói đời tranh hùng. Chín thủ lĩnh chín châu tranh nhau ngôi vua Ai Lao Di Tây Thục với em út. Họ đem quân đánh nhau nồi da nấu thịt khiến nàng Sa Nhất hết sức đau lòng. Nàng đứng trên Thành Cổ Sắc tuôn nước mắt như mưa nói :

-Cổ nhân có câu “Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau, Anh em như thể chân tay, Máu chảy ruột mềm… Ba cây chụm lại mới nên rừng”. Chỉ vì tý quyền lực mà các con đánh nhau không còn ra giống người nữa. Do đó mẹ ra lệnh cho chín anh quản châu nào về châu ấy thì dân trăm họ mới được yên ổn làm ăn, quốc gia mới giầu mạnh. Các con phải biết một sự nhịn chín sự lành. Anh em phải trên kính dưới nhường hòa thuận thì nước không mất nhà không tan. Các con hãy ngừng chiến chớ để Vua Hùng đem đại binh 15 Bộ đến đánh dẹp thì mẹ còn mặt mũi nào nữa?

Thế là chín người anh rút quân khỏi Thành Cổ Sắc để người em út tài ba làm vua mãn đời.

Nàng Sa Nhất biết hòa giải lui binh của chín con tranh hùng đem lại thái bình hạnh phúc cho dân nước khiến Then hết sức cảm phục. Khi nàng Sa Nhất về trời đã được Then phong là công chúa Hằng Nga cai quản mặt trăng tỏa ánh sáng hiền hòa xuống trần gian làm gương soi cho muôn kiếp người.

Từ ấy những đêm trăng tỏ người ta nhìn thấy Sa Nhất Hằng Nga thấp thoáng trên cung Quảng Hàn.

Cầm Ngọc Thi kể – Ghi ở Mường Lò 1980

Tết năm ấy người Thái ở Hạnh Sơn đang tưng bừng hội xuân. Trai gái trên sân hoa hạn khuống đang say sưa đàn tính tẩu hát khắp báo sao. Chỗ thì nam nữ thanh niên ném còn đỏ còn vàng. Chỗ thỉ trẻ em chơi trò đánh quay, đánh đu. Chỗ thì kết vòng xòe già trẻ xung quanh chum rượu cần… Vui ơi là vui.

Thấy người trần gian mở hội lồng tồng, Ma Long Vương tập họp quân lính nói :

-Người Thái Hạnh Sơn ăn tết lớn mừng xuân về không cúng ta. Phải cho bọn vô thần thất lễ một bài học mới được. Quân bay hãy theo ta làm mưa lũ sớm quét sạch người vật Hạnh Sơn xuống thủy phủ làm cỗ cho cá thuồng luồng mau!

Quân lính Ma Long Vương dạ ran. Sấm vang chớp giật. Mây đen cuồn cuộn đen kịt bầu trời. Lốc xoáy mưa tuôn như thác dội. Nhà bay, cây đổ, núi lở ầm ầm. Lũ ống lũ quét tràn ngập bản mường. Người chết kẻ sống khóc gào trong mưa gió.

Tạo bản Quảng Khằm kéo quân cung nỏ gươm giáo xông ra đánh nhau với Ma Long Vương. Nước bùn đất vung vãi khắp một vùng. Cây cỏ con người con vật lấm lem từ đầu đến chân. Dân làng ai nấy đều cầm dao cuốc thuổng xẻng ngả cây đào đất chặn dòng nước lũ, đâm cá, chém rắn trợ chiến giúp Tạo bản Quảng Khằm quyết đuổi Ma Long Vương ra khỏi bầu trời mặt đất. Trận đánh ác liệt chưa phân biệt thắng thua thì Tạo Mường Gia đem quân tới chi viện, xiết chặt vòng vây định bắt sống Ma Long Vương. Mũi tên thuốc độc bắn vào Ma Long Vương như mưa. Ma Long Vương khiếp sợ rơi khỏi lưng rồng tõm xuống suối, theo con cá chạch dẫn đường chuồn ra sông Đà. Mây đen tan hoang. Trời quang bừng nắng. Nước lũ cạn trơ .

Từ ấy bãi chiến trường trở thành cái ao lớn gọi tên là thôn Ao Luông (ao rộng). Do chiến sự cả Hạnh Sơn lấp lem bùn đất nên gọi tên bản Lấm.

Lường Thanh Xuân kể- Ghi ở Trường TNDT Lũng Mu 1980.

Ngày xưa ở Mường Lò có cô gái Thái rất xinh đẹp. Tóc dài như suối, răng trắng hạt lựu tơ. Đôi mắt lá răm đôi mày lá liễu. Giọng nói diu dàng thỏ thẻ oanh vàng. Trông thấy nàng con hổ phục xuống liếm chân, con chim đang bay hạ cánh chào, con cá đang bơi dựa khe đá ngắm nàng. Nàng thảo hiền , chịu khó, hay làm, dân bản ai cũng yêu mến. Hội xòe hát khắp nam thanh nữ tú ca ngợi nàng :

Ngày nào cũng vậy sau công việc đồng áng , nàng lại đeo giỏ cầm vợt xuống suối Thia xúc cá.

Dưới thủy cung vua Thủy Tề có một Hoàng tử khôi ngô tuấn tú văn võ song toàn, đã tuổi băm chưa tìm được người yêu vừa ý. Mỹ nhân ngư vô số ngấp nghé, chàng chẳng thuận ai. Một trưa hè chàng đang ngồi mát ngắm cảnh thủy cung thì trông thấy bóng người con gái đẹp tuyệt trần. Hoàng tử liền quẫy mình một cái đã đến bên nàng. Đang mải xúc cá bỗng thấy người con trai dưới nước đứng lên , quần áo như rát bạc, nàng sợ hãi ngã xuống nước. Hoàng tử vội vàng bế nàng lên bờ chữa chạy. Một lát sau nàng tỉnh dậy, thấy mình nằm trong vòng tay của chàng trai lạ, nàng định vùng chạy, nhưng chàng trai dịu dàng nói :

-Anh là Hoàng tử con vua Thủy Tề đến với em bằng tấm lòng yêu thương chứ có làm hại em đâu mà sợ!

Nghe chàng nói thành thật tha thiết, nàng nằm yên để cảm nhận cái hơi ấm diệu kì lan tỏa xung quanh mình. Nó như là hạnh phúc trời ban cho mình, không thể bỏ đi được. Nghĩ vậy nàng cứ để yên lim dim đôi mắt nhìn chàng. Chàng cũng nhìn nàng. Bốn mắt gặp nhau cùng muốn không bao giờ khép lại. Nhưng không ở lâu được trên cạn, chàng tạm biệt hẹn nàng gặp lại nhau nơi này.

Cuộc tình của hai người bại lộ. Bọn trai bản cầm đầu là con ông tạo đã săn đón nàng nhiều lần không được nên đã theo dõi rình trộm. Trưa hôm ấy nàng và Hoàng tử đang tâm tình thì bọn trai bản ập đến. Thấy vậy nàng hoảng hốt bảo Hoàng tử:

-Chạy đi ! Anh ơi!

Hoàng tử thấy không còn cách nào khác hóa thân thành con hươu trắng chạy ra bờ suối. Nhưng không kịp. Một mũi tên đã cắm đúng trái tim chàng. Vớ được con hươu trắng bọn trai giết thịt đem chia cho mỗi gia đình trong bản một miếng. Riêng có một nhà đi vắng nên miếng thịt được treo ở sân trước cửa.

Vua Thủy Tề được tin con trai bị giết tức giận lớn như biển bèn sai hàng vạn thủy tộc dâng nước lên báo thù. Thế là một trận lũ khủng khiếp cuốn trôi sạch sanh nhà cửa của dân bản. Chủ nhà đi vắng bị cuốn trôi một góc chỗ treo miếng thịt.

Sau khi nước rút cái bản mổ hươu trắng ăn thịt còn trơ đất sâu hoắm xuống nên người ta gọi là bản Lốm nghĩa là lúm xuống.

Theo Lò Văn Lả và Phạm Đức Hảo.

Ngày xưa ở bản Phù Nham có đôi trai gái yêu nhau tha thiết đắm say. Nhưng không lấy được nhau.

Chàng trai tên là Khun Sa con nhà cuông nghèo khổ cùng đinh xã hội. Chàng hơn người đẹp trai tài giỏi nhất vùng. Chàng biết đúc sắt rèn sắt chế tạo súng săn. Nương bản nào có lợn lòi sơn dương phá hoại mùa màng là chàng vác súng tới bắn trúng vài con mang về bản khao bà con làm bữa sơn hào và bán kiếm sống. Nương ấy lợn lòi sơn dương bạt vía không về nữa. Chàng lặn suối bắt cá Sỉnh cũng tài. Cứ con nào to béo chàng mới bắt, con nào gầy nhỏ chàng thả ra để nuôi, đặc biệt chàng không bắt con cá có bầu trứng để nó sinh sản. Chàng thường tham gia các hội xuân các bản đua ngựa bắn súng tranh giải nhất hàng năm và thích hát báo sao trên sân hoa khạn khuống khiến nhiều người mê. Chàng được nhiều cô gái muốn lấy làm chồng. Nhưng chàng chưa có đồng bạc trắng để hỏi vợ.

Cô gái tên là Nàng Ủa tuyệt vời xinh đẹp con nhà tạo bản. Nàng Ủa có khôn mặt trái soan, da trắng như nõn cây chuối rừng, tóc dài mượt như suối, đội khăn piêu, mặc áo cỏm, váy đen, thắt lưng hồng, đeo xà tích bạc càng thêm xinh đẹp bội lần. Nàng dệt vải thổ cẩm và thêu thùa chưa cô gái nào sánh kịp. Nàng gẩy đàn tính tẩu và hát khắp báo sao khiến con chim bay phải đáp cành lắng nghe. Đã mấy năm nàng được chọn làm lắc xáy cốc ngồi trung tâm sân hoa khạn khuống trong lễ hội lồng tồng. Trai mường trên bản dưới liên tiếp chọc sàn nhà tạo, nhưng nàng Ủa chưa chọn được người nào đến nhà ở rể.

Nàng Ủa từng hát khắp báo sao với chàng Khun Sa trên sân hoa hạn khuống rất ăn ý ăn tình. Hai người lần nào gặp nhau cũng lòng trong như đã mặt ngoài còn e. Khun Sa biết thân phận con nhà cuông đâu dám chơi chòi con nhà tạo bản. Còn nàng Ủa thì không hề nghĩ phải lấy chồng môn đăng hộ đối. Nàng mơ ước một tấm chồng khỏe mạnh dễ thương tài ba như Khun Sa.

Hai con tim thôi thúc như trống giục không thể cưỡng nổi, họ đã lấy cớ đi rừng tìm đến nhau hát khắp báo sao tỏ tình. Khun Sa cất tiếng trước : ” Con cá sỉnh bơi trong suối / Cho lòng anh sao bối rối / Bông lúa chín vàng ruộng nương / Cho lòng anh sao vấn vương” Nàng Ủa vươn cao cổ trắng ngà như bông huệ hát đáp : ” Trong suối con cá sỉnh lội / Chàng đem chài ra tung quăng / Lúa ruộng lúa nương chín vàng / Chàng đem liềm hái ra gặt “…

Cứ thế ngày nào cũng thế họ hát tối ngày vẫn không rời nhau. Lúc ra về họ cầm tay nhau một hồi lâu mới từ từ chậm chậm buông ra, rồi lại cầm tay nhau dùng dằng không muốn xa.

Hôm sau họ bàn nhau chọn ngày tốt nhờ bà mờ đến nhà tạo dạm ngõ. Chàng tin nàng đã thuyết phục được mẹ cha không phân biệt giầu nghèo trong hôn nhân, nên đã nhờ bà mờ mang cơi trầu đến nhà tạo bản thưa chuyện thì cha nàng nói:

-Người Kinh Keo còn có câu: “Bao giờ chạch đẻ ngọn đa / Sáo đẻ dưới nước con ta lấy chàng.” Bà về bảo thằng Khun Sa hãy thôi yêu cái Ủa của nhà ta. Nếu không thì về mường Trời sớm.

Bà mờ xin lỗi nhà quan ra về thầm nghĩ : ” Nhà tạo cũng là người sao mà như yêu tinh thế ?” Bà mờ cho Khun Sa biết tin buồn. Khun Sa tuyệt vọng không làm không ăn chỉ đóng cửa lều nằm dài than trời thở đất.

Bà mờ ra về thì tạo bản gọi con gái ra giữa nhà nói chuyện. Tạo bản phi con dao găm cắm phập vào cái cột gỗ đinh phán:

-Tao cấm mày lấy cái thằng con nhà cuông cùng đinh xã hội nghe chửa! Ít ra mày phải làm dâu con nhà tạo bản như tao nghe chửa!

Nàng nghe cha nói như tiếng sét choáng tai. Nàng ù té chạy một mạch vào rừng sâu tìm Khun Sa bàn nhau đi trốn. Đi mãi đi mãi không thấy, nàng kiệt sức ngồi xuống tảng đá khóc thảm thiết rồi nằm đất vĩnh viễn. Nước mắt của nàng ràn rụa đẫm chín cánh rừng chảy thành dòng suối nước mắt qua Mường Lò đổ ra sông Thao. Suối nước mắt ấy, tiếng Thái giọi là Nậm Thia. (Thia có nghĩa là mắt). Tương truyền mái tóc của nàng trôi theo dòng suối biến thành rêu đá quanh năm xanh mượt.

Ngày tết năm mới, trẻ em đến Nậm Thia lấy rêu đá xài lơ (quấn khăn) lại nhớ đến bi kịch tình yêu của nàng Ủa ngày xưa.

Cầm Ngọc Thi kể- Ghi ở Mường Lò 1980

Ngày ấy một chàng trai Mông vừa nghệ sỹ vừa đa tình tên là Thào A Páo từ Khau Phạ mang khèn xuống núi tham dự hội xuân Lồng Tồng của người Thái ở tận bản Nà Hẩu.

Chàng bước lên sân hoa Hạn Khuống bỗng đứng sững lại trước người đẹp hút hồn sao tổn khuống lắc xáy cốc Cầm Ngọc Va. Suýt nữa thì chàng ngất sỉu trước bông ban trắng ngần chưa từng thấy bao giờ. Một lát sau chàng mới trấn tĩnh đưa ống khèn lên môi khom khom nhảy xung quanh lắc xáy cốc. Tiếng khèn trầm trầm êm ái như tiếng đục của suối ngàn ngân lên lời hát gầu plềnh:

Lắc xáy cốc Cầm Ngọc Va cất tiếng hát trong trẻo thiết tha theo nhịp khèn lời khắp báo sao:

Rồi tiếng khèn chuyển điệu, chàng Mông cô Thái đồng thanh hát :

Thào A Páo vừa múa khèn vừa hát:

Với tấm lòng cởi mở hiếu khách và gặp nhau trong giai điệu xuân, Cầm Ngọc Va dương ô theo lối Mông cất tiếng hát khắp báo sao :

Bóng ô của nàng che trên đầu chàng đang nhảy nhảy thổi khèn vè vè. Rồi nàng cụp ô đứng một bên. Chàng cầm khèn đứng một bên. Hai người đối diện nhau hát đối đáp giao duyên Mông Thái. Chàng cất giọng nam trầm :

Nàng cất giọng nữ cao hát đáp :

Hai người chạy đến với nhau, nàng xòe ô che chung hai mái đầu xanh trong tiếng vỗ tay như pháo ran của ngày hội Lồng Tồng.

Trong bảy ngày khóc nước mắt của chàng tuôn ra thành một dòng suối dọc núi Tà Đăng đổ xuống lượn vòng một thung lũng cỏ cây um tùm. Dòng suối ấy chứa đầy tiếng khèn tiếng hát gầu plềnh của chàng họ Thào, lúc nào cũng ngân nga không bao giờ dứt. Đàn cá nghe tiếng hát ngọt ngào kéo về đầy suối. Con chim uống nước suối giọng hót càng trong trẻo hơn. Con vượn uống nước suối kêu càng hay. Người thợ rừng nào qua đây uống nước suối tắm suối trở về tự nhiên biết thổi khèn và say sưa hát gầu plềnh nếu là người Mông, hát khắp báo sao nếu là người Thái…

Lại nói nàng Cầm Ngọc Va không phải là vô cảm với chàng trai Mông, mà nàng đã yêu chàng với tình yêu đẹp nhất trên sân hoa hạn khuống đã mở ô che cho chàng múa khèn khiến cả đám hội Lồng Tồng đã chứng giám và mừng vỗ tay. Nhưng cái tăm tối tộc lệ còn ngự trị gia đình dòng họ đã ngăn cấm nàng tơ tưởng đến một người khác tộc. Do đó nàng đã nhiều lần tránh gặp lại nghệ sỹ Mông Thào A Páo.

Sáu chục năm trôi qua. Một hôm bà lão Cầm Ngọc Va gọi người con trai đến bảo:

-Ngày còn trẻ mẹ nằm mơ thấy một dòng suối nước mắt cất lên tiếng hát thiết tha gọi tên mẹ. Con đi săn kết hợp tìm xem dòng suối trong mộng ấy ở đâu. Chắc nơi ấy có duyên gì với mẹ chăng?

Nghe mẹ, người con trai của Cầm Ngọc Va là Lò Ngọc Sơn trong một chuyến đi săn đã tới núi Tà Đăng gặp dòng suối nước trong như ngọc chim tắm cá bơi nước chảy nghe như tiếng khèn tiếng hát rất trữ tình và một thung lũng phì nhiêu, chàng đã gặp một cụ già người Mông hỏi về con suối ấy tên gì thì cụ già nói:

-Thời tôi còn trẻ nghe nói có một chàng trai Mông yêu một cô gái tha thiết, chàng không được cô gái ấy đáp tình đã cầm khèn lên núi này thổi khèn và hát những bài ca than thân trách phận yêu đương đơn phương đau khổ và khóc hết nước mắt rồi chết. Nước mắt của chàng biến thành con suối ngày đêm chảy xuống thung lũng hoang kia như cất tiếng hát tiếng khèn và được gọi là suối Nước Mắt.

Trở về nhà, Lò Ngọc Sơn kể lại câu chuyện cho bà mẹ nghe. Bà cảm động rơi lệ rồi sai con trai đưa gia đình lên thung lũng suối Nước Mắt dưới chân núi Tà Đăng dựng nhà, khai hoang, lập bản. Bà lão Cầm Ngọc Va đã quên hát khắp báo sao từ lâu do tắm suối Nước Mắt và uống nước suối ấy bỗng nhiên lại thuộc hết những bài hát đối đáp với Thào A Páo xưa và giọng vẫn hay như thời con gái. Như có linh tính mách bảo người yêu trên sân hoa hạn khuống năm ấy của bà vẫn theo bà và phù hộ cho gia đình bà đến vùng này làm ăn giầu có hẳn lên, ai cũng biết hát và hát hay. Bà thầm lặng lập một bát nhang thờ nghệ sỹ Mông Thào A Páo và gọi người con trai đến bảo :

-Con hãy làm tờ trình quan chi châu gọi dòng suối Nước Mắt này là suối Hát, bản này là bản Hát.

Từ ấy bản Hát của người Thái và suối Hát trên núi Tà Đăng có tên trên bản đồ của huyện Trạm Tấu.

Sự tích hang Bu suối Bu bản Bu

Ngày ấy Tạo Mường Bảnh chơi thân với Tạo Mường Lò. Tạo Mường Bảnh có con trai chưa vợ là Tông Kinh khôi ngô tuấn tú đậu hương cống chữ Thái. Tạo Mường Lò có một con gái duy nhất xấu xí ma chê quỉ hờn tên là Lò Thúy Liên chưa chồng.

Một hôm Tạo Mường Bảnh đến chơi nhà Tạo Mường Lò. Cha Lò Thúy Liên cấm nàng ra tiếp khách, ngồi dấu mặt trong buồng. Đích thân Tạo Mường Lò xuống chân cầu thang đón khách lên sàn mời ngồi chiếu hoa. Một cô gái khăn piêu áo cỏm váy đen thắt lưng hồng xà tích bạc tuyệt vời xinh đẹp bưng rượu mời chủ và khách. Họ chạm cốc đánh cạch. Chủ hãnh diện. Khách vẻ rất hài lòng. Chuyện trò rôm rả xung quanh gia cảnh. Xong tiệc rượu đến tiệc cơm. Một cô gái khăn piêu, áo cỏm, váy thâm, xà tích bạc, thắt lưng xanh, xinh đẹp tuyệt trần yểu điệu bưng ra mâm cỗ đặt xuống chiếu, so bát đũa, ân cần mời. Tạo Mường Bảnh sững sờ nghĩ thầm: “Không ngờ Tạo Mường Lò lại có hai con gái chưa chồng đến Tiên Sơn cũng không bằng. Ta mà được một trong hai cô này về làm dâu sánh với Tông Kinh thì đăng đối biết bao!” Như đoán được ý nghĩ của khách, chủ nhà nói :

-Hai con gái ta đấy! Trông được đấy chứ ! Nghe nói ông có cậu Tông Kinh đậu hương cống đã có người nâng khăn sửa túi chưa?

-Cậu đang kén người để ở rể. Chả biết Tạo Mường Lò hào hiệp có nhận không?

-Ồ! Ta với ta hộ đối quá còn gì! Một trong hai, ưng đứa nào cho ở rể đứa ấy!

Hai cô gái họ hàng hầu cơm rượu nghe nói mà thẹn đỏ mặt cứ như hai trái đào chín tới vậy!

Cơm nước xong sang tiệc trà, lại một cô gái đẹp thứ ba bưng khay trà bước ra mời. Chủ càng vênh vang. Khách càng thầm phục. Cô gái xuất hiện làm cho nhà sàn bừng sáng. Tiệc nước xong Tạo Mường Bảnh định cáo về thì chủ nhà nắm tay giữ lại nói :

Một chàng trai bước ra chào kính trọng thân mật kể một loạt chuyện sự tích của Mường Lò như Hoa Ban, Hang Thẩm Lé, núi Pú Chạng, suối Nậm Thia…rồi đến một tốp nghệ nhân chơi đàn tính tẩu, thổi khèn bè, sáo pí pặp, pí thiu, hát khắp, hát then. Tiếp theo là trai thanh nữ tú trong mường đến nhà tạo mở hai vòng xòe nhạc và khăn cùng các điệu múa sạp, múa nón, múa quạt… ngay giữa nhà sàn làm vui cho khách.

Đến lúc mặt trời tà, Tạo chủ tiễn Tạo khách đến chân cầu thang thì ở đó có hai cô gái xinh đẹp chân trọng dâng chén rượu nếp thơm lừng. Chủ và khách lại chạm chén đánh cạch chào tạm biệt hẹn gặp lại.

Trở về nhà Tạo Mường Bảnh gọi Tông Kinh đến bảo:

-Nhà Tạo Mường Lò có hai con gái tuổi cập kê, bố vừa mắt vừa ý, muốn hỏi vợ cho con lắm. Hôm nào tốt ngày, bố đưa con đến chơi xem mặt chắc bằng lòng ngay!

Ngày hoàng đạo giờ tốc hỷ hai cha con đến chơi nhà Tạo Mường Lò. Người cha lại cấm Lò Thúy Liên ra khỏi buồng, cho gọi hai cô gái họ hàng hôm trước đến tiếp rượu trà cơm thịnh soạn hiếu khách hơn lần đầu. Tông Kinh làm quen hai cô tên là Lò Thúy Liên và Lò Thúy Loan. Trên đường về nhà, người cha hỏi con trai :

-Con thích Lò Thúy Liên hơn!

Thế là ngày tốt hôm sau Tạo Mường Bảnh nhờ bà mờ mang cơi trầu đến Tạo Mường Lò hỏi vợ cho con trai. Theo thời mới Tạo Mường Lò bỏ qua lệ ở rể vì cậu Tông Kinh sắp được bổ quan châu và cho cưới ngay. Ngày cưới cô dâu Lò Thúy Liên con gái duy nhất của Tạo Mường Lò chùm tấm khăn hồng dấu bộ mặt xấu xí ma chê quỉ hờn. Khi về nhà chồng Tông Kinh mở tấm khăn hồng ra thì than ôi không phải là cô Thúy Liên hôm trước. Chàng ngất sỉu. Tạo Mường Bảnh bị Tạo Mường Lò lừa gạt tức phát điên. Định dẫn nàng dâu đem trả, nhưng lại thôi vì đã làm giấy giá thú và lại giữa dịp tết nhất lôi thôi làm mất dông cho cả năm của gia đình họ hàng làng bản. Nên cha con Tạo nén giận qua ba ngày tết. Ra giêng, Tạo Mường Bảnh mời ông thông gia đến nhà chơi bình tĩnh nói :

-Tạo Mường Lò à! Ông lừa bố con tôi! Con tôi ưng một trong hai cô hầu rượu cơm người họ hàng nhà ông cơ! Còn con gái duy nhất của ông đã đội lốt họ để lấy con tôi như đôi đũa lệch đo sao cho bằng? Ông tính sao đây?

-Con tôi xấu người nhưng nết đẹp. Người Kinh Keo kia còn có câu : “Cái nết đánh chết cái đẹp”, ông biết chứ ! Thôi thì cái chuyện duyên số đã rồi. Tôi đền bù cho ông một cái hang nước trong núi của tôi là bất động sản được không? Nếu ông đồng ý thì tôi viết văn tự điểm chỉ đóng dấu Tạo mường luôn.

Được núi hang suối một vùng lãnh thổ khá rộng có thể lập được một bản. Tạo Mường Bảnh nghĩ vậy rồi gật đầu. Trong văn tự ghi tên là Hang Bù, Suối Bù. Về sau gọi chệch đi cho thuận tai gọi là Hang Bu Suối Bu.

Một phen thay đổi sơn hà, ông Tạo Mường Bảnh chết, Tông Kinh lấy vợ bé, làm quan chi châu Hoàng Nham phủ Tây An. Hang Bu Suối Bu bỏ hoang lau lách um tùm. Người Mông từ Trạm Tấu tới khai hoang làm ăn sinh sống định cư đặt tên là bản Bu.

Cầm Ngọc Tú kể – Ghi ở Mường Lò 1980

Sự tích hai hàng khuy bướm bạc

Ngày xưa có chàng trai họ Lò và cô gái họ Cầm yêu nhau say đắm nguyền non thề núi kết đôi trăm năm. Nhà họ Cầm chê nhà họ Lò quá nghèo không muốn gả cô gái cho chàng trai nên thách cưới một trăm con trâu, một trăm con bò, một kho thổ cẩm, trăm tấm lụa trắng, trăm tấm the đen, vàng vạn lượng, bạc nghìn cân…

Để có tiền cưới cô gái họ Cầm, chàng trai họ Lò quyết chí đi buôn. Chàng mua sừng tê ngà voi từ Ai Lao mang về kẻ chợ bán. Chàng lại mua muối từ biển Đông lên Mường Then, Mường La bán.

Ngày ra đi chàng hứa với người yêu ba năm sẽ về có đủ tiền sắm lễ vật cưới nàng mà nay đã mười năm chưa thấy tin tức gì. Nàng vẫn kiên lòng chờ đợi mỏi mòn. Nhưng một hôm hai mẹ con nàng cùng lâm bệnh hiểm nghèo rồi cùng qua đời.

Như có linh tính mách bảo, chàng từ Ai Lao tức tốc trở về thì thấy dân bản đang cử lễ tang cho hai mẹ con, chàng vô cùng đau xót, quì giữa hai quan tài, một bên tay nắm vạt áo mẹ, một bên tay nắm vạt áo người yêu mà than khóc thảm thiết.

Đến khi nắp quan tài đóng sập xuống, nhưng chàng vẫn chưa buông tay nắm hai vạt áo. Mọi người đành mỗi bên xén một vạt áo để lại trong hai bàn tay chàng.

Chàng cầm hai vạt áo giơ lên để ôm vào lòng thì từ hai vạt áo biến thành hai cánh bướm trắng chắp liền vào nhau tung bay đi.

Chàng quá thương tiếc mẹ và người yêu mấy ngày sau cũng qua đời. Từ nấm mồ chàng bò lên cây như một con Tô nhôm moong (Cày Vòi) nằm bất động, không ăn, không uống, gầy tóp trên tít ngọn cao để được ngắm từng đàn bươm bướm trắng rợp rờn bay mỗi mùa xuân đến.

Bà con bản rất xúc động và trân trọng mối tình trong trắng thủy chung của đôi trai gái họ Lò họ Cầm và đạo hiếu của người con đối với mẹ quá cố. Để ghi nhớ truyền đời, họ đã chắp hình tượng hai cánh bướm đính ép nó lên ngực áo nơi có trái tim con người.

Vì thế ngày nay chiếc áo cỏm của phụ nữ Thái được đính hai hàng khuy bướm bạc vừa kỉ niệm vừa tôn vinh tình yêu trong trắng chung thủy.

Cầm Vân kể- Ghi ở Trường TNDT Lũng Mu Nghĩa Lộ 1980

Ngày xưa ở bàn nọ có cô gái xinh đep và tài hoa. Do đó người bản gọi nàng cái tên đẹp là Hoa. Nàng lớn lên ngày một đẹp hơn. Khuôn mặt tròn của nàng khiến trăng rằm phải ẩn náu. Đôi mắt long lanh của nàng làm cho sao đêm mùa hạ phải mờ. Nàng vừa dệt thổ cẩm vừa hát. Tiếng hát của nàng cao vút trời xanh, làm mây ngừng bay chim ngừng ca, vượn ngừng hót, cá ngừng bơi, suối ngừng chảy. Tất cả sững sờ mê li ngây ngất. Nàng hát xong bài khắp thì tấm thổ cẩm dệt cũng xong, đẹp hoàn mĩ, hiện lên bức tranh mùa xuân trăm hoa đua nở, mùa thu trăm trái chín vàng, đồng xanh núi lam tím, ngày mặt trời đêm mặt trăng sáng mênh mông, gái trai xiết chặt vòng xòe, xốn sang tiếng khèn bè, ném còn vàng còn hồng chui qua vòng xanh vòng đỏ trên trời…

Danh tiếng nàng Hoa lừng lẫy thiên hạ. Các chàng trai tài nghệ, mường trên bản dưới nô nức tìm đến nhà nàng Hoa hát khắp, thổi sáo, đàn môi tỏ tình véo von réo rắt suốt mùa trăng. Riêng chỉ có tiếng sáo pí pặp của chàng họ Lò ở bản suối dưới là lọt được vào tai nàng :

Thế là hai người gặp nhau thề trăng hẹn núi, trăm năm kết tóc xe tơ. Chàng họ Lò nói với cha mẹ nhờ ông mối bà mai đến thưa chuyện với cha mẹ nàng Hoa. Biết chàng họ Lò con nhà nghèo, không ưng, cha mẹ ép Hoa lấy chồng quan châu con nhà tạo có quyền chức giầu sang.

Nàng Hoa và chàng họ Lò dắt nhau lên rừng đào cái huyệt to, cùng nằm xuống, cùng ăn chung nắm lá ngón để giữ trọn lời thề.

Mối đắp cho họ nấm mồ lớn. Không lâu sau từ nấm mộ chung mọc lên bụi nứa tép cao vút. Cành lá tươi xanh rì rào trong gió những âm thanh huyền ảo. Những đêm trăng sáng, những người thiện tâm trông thấy từ bụi nứa tép hiện ra đôi trai gái tự tình. Người hát kẻ thổi sáo hòa tấu một giai điệu tình yêu đắm say lay động lòng người. Người ta bảo đó là hồn của nàng Hoa và chàng họ Lò vẫn còn linh hiển.

Từ đó trai bản trên gái mường dưới đến tuổi cập kê rủ nhau tìm bụi nứa tép khấn vái xin đốt ống nứa về làm cây sáo thổi gọi người yêu tự tình. Cây sáo pí pặp với những âm thanh muôn vẻ của tình yêu còn lưu truyền đến ngày nay.

Đinh Văn Liễn kể – Ghi ở Trường TNDT Lũng Mu Nghĩa Lộ 1980

Thời ông Tạo Xuông Tạo Ngần xuống trần gặp Đá Nhai đã cho ném 360 quả bưởi 360 quả bòng vào mồm bị tê đắng mới ngừng nhai, con người con vật được thoát nạn. Tạo Xuông Tạo Ngần về trời, hồn Đá Nhai biến thành con quỉ bốn mồm khổng lồ, bốn cổ đàn hồi có thể vươn dài ra xa ngàn dặm, mỗi mồm như cái mồm trâu nhưng có hai hàm răng bằng , mỗi cái răng trắng ởn to như tảng núi đá, sau khi mồm há vơ được con người con vật thì nhai đi nhai lại xương thịt nát ra cám thì nuốt vào cái bụng to như quả núi.

Mường nào có nhiều người nhiều trâu bò voi ngựa thì cái đầu Quỉ Nhai vươn tới mồm vơ một lượt được hàng trăm người vật mới đủ một mẻ nhai. Bốn cái mồm cùng hoạt động ở bốn mường thì chẳng bao lâu con người con vật trần gian sẽ hết sạch.

Con người con vật phải phân tán và trốn tránh trong hang đá mới có thể thoát miệng Quỉ Nhai nhưng lại chết đói và bệnh tật.

Dân trăm họ đều lo sợ cậy thầy mo cúng bái hiến tế người vật để Quỉ Nhai tha mạng cũng không xong. Bắt chước người xưa ném bưởi ném bòng ổi xanh ớt bồ hòn cũng vô ích vì cái gì không ăn được Quỉ Nhai khạc ngay ra ngoài. Ai nấy đều căm thù Quỉ Nhai tìm cách giết chết nó để cứu lấy mình.

Mường nọ có chàng Lường Chiến một hôm có dông bão thấy sét đánh chết một người trú dưới gốc cây cổ thụ, chàng nói một mình: ” Ta phải tìm ra vật gì gây tiếng nổ như sét trong mồm Quỉ Nhai thì nó mới đi đời nhà ma”. Chàng đi gặp các nhà thông thái khắp chín con sông hỏi xem có chất gì làm thuốc nổ giết Quỉ Nhai thì ai cũng lắc đầu chưa phát minh ra được. Một đêm chàng nằm mơ thấy một ông già tóc bạc phơ râu trắng như cước, mặt hồng hào đứng ở bên giường bảo :

-Ta là Then đây! Ta mừng cho con đã có chí khí giết Quỉ Nhai cứu người cứu vật. Con muốn có tuốc nổ thì lấy diêm sinh màu vàng tán bột chộn với bột than cây soan và bột phân dơi rồi nhồi trong ống nứa khô kèm theo một ống nứa đựng dầu quả rái buộc vào cổ con bò. Quỉ Nhai nhai con bò thì nó sẽ toi mạng.

Nói rồi Ông già biến mất. Chàng làm theo lời Then dặn.

Hôm ấy Quỉ Nhai vươn một đầu đến bản Quỳnh . Chàng lùa đàn trâu bò vào miệng Quỉ Nhai trong đó có một con bò mang thuốc nổ và ống dầu rái. Khi hai hàm răng nhai nghiền vào ống thuốc nổ, do ma sát nên ngòi thuốc cháy nổ một tiếng vang như sét, lửa bắt vào dầu rái cháy đỏ lòm miệng Quỉ Nhai, hai hàm răng vỡ tan và một đầu chết thui, bay mùi khét lẹt. Quỉ Nhai bốn mồm còn ba.

Hôm sau chàng đến bản Lũng và hai bạn chiến đấu của chàng đến bản Võ và bản Bảo diệt ba mồm của Quỉ Nhai đều cháy nổ chết thui cả ba. Quỉ Nhai rãy đành đạch gồng lên ầm ầm đổ vỡ rung chuyển như động đất rồi chết hóa thành núi.

Từ ấy con người con vật thoát họa Quỉ Nhai được sống bình yên tiếp tục sinh sôi nẩy nở đông đàn dài lũ. Bốn nơi mồm Quỉ Nhai bị cháy nổ chết tương truyền là Quỳnh Nhai ở Sơn La, Bảo Nhai, Võ Nhai ở Văn Bàn Lào Cai, và Lũng Nhai mà Lam Sơn mở hội thề ở Thanh Hóa. Người anh hùng Lường Chiến được đồng bào Thái Xá ghi nhớ đặt tên cho một mường tương truyền là Mường Chiến ở Than Uyên.

Quảng Đại kể- Ghi ở Trường TNDT Bảo Hà 1981

Ngày ấy, có một con trâu thành tinh. Hôm nào nó cũng dẫn đầu đàn trâu rừng phá hết lúa của người Thái trên bốn cánh đồng lớn Thanh Lò Than Tắc hòng làm cho người Thái hết xôi nếp chết đói , lợn người Thái nuôi hết cháo gạo tẻ chết gầy.

Tạo các mường tuyển thanh niên trai tráng cưỡi voi xông pha trận mạc cung bắn, giáo đâm chỉ diệt và đuổi được những con trâu rừng bình thường ra khỏi ruộng nương. Còn con trâu thủ lĩnh thành tinh hung hăng không ai diệt được. Mũi tên bắn vào da nó không thủng. Nó dùng tứ chi đá, hai sừng húc, răng mõm vơ đến voi cũng phải thua, hổ cũng phải chạy. Còn tráng sỹ tài ba nó chỉ gẩy sừng nhọn hoắt cho một chưởng thì thủng bụng, bay lên trời, rơi xuống đất tan xác.

Bản nọ có cô gái tên là Cầm Làn đi làm nương không đội nón bị thấm vài giọt mưa vào đầu, về nhà tự nhiên có bầu. Thấy nàng không chồng mà chửa, tạo bản định thi hành hương ước phạt vạ, thì cô gái bỏ trốn vào hang núi ở. Đến ngày khai hoa, cô gái sinh được cậu bé khôi ngô tuấn tú, không cần bú mớm, lớn nhanh như thổi, thân hình rắn chắc như sắt như đồng, một trăm tráng sỹ không địch nổi. Ai cũng bái phục tôn vinh là con trời và gọi chàng là Cầm Thiên Thiết. Năm ấy chàng vừa tròn mười bảy tuổi chí khí hiên ngang muốn làm việc nghĩa ích quốc lợi dân.

Một hôm có tin đồn con trâu thành tinh đã tới Mường Lò phá lúa phá nhà húc chết nhiều người trên đường nó gặp . Cầm Thiên Thiết xin phép mẹ ra đi diệt con trâu thành tinh cứu mường. Chàng một mình chân tay không vũ khí đón đầu trâu thành tinh, hai tay nắm hai sừng đẩy lùi nó hàng chục dặm tới tận hang Thẩm Lé. Tay phải chàng lắc mạnh bẻ một cái thì gẫy một sừng. Trâu thành tinh rống lên như tiếng sét rung trời rồi chết cứng. Chẳng bao lâu nó hóa thành con trâu đá gẫy một sừng, đã bao đời mưa gió nước chảy đá mòn vẫn còn lưu hình dạng đến ngày nay.

Trừ được họa trâu thành tinh cứu mường, Cầm Thiên Thiết về hang núi chào mẹ rồi lên đỉnh Pú Trạng Sơn bay về trời. Từ ấy người đời có câu : ” Tuổi mười bảy bẻ gẫy sừng trâu”.

Lò Cẩm Thi kể – Ghi ở Mường Lò 1980.

Họ Khăm giữ đất giữ mường

Ngày ấy trong năm loạn rừng. Hổ báo đầy núi cao đồi thấp. Loạn giặc biên cương, mường không yên ổn làm ăn. Người Thái không chạy sang mường Pồn. Bản trong lo mắm muối bản ngoài lo gạo cơm. Dắt con chạy qua rừng, địu cháu vượt qua suối.

Những người chạy loạn sau cùng là bốn anh em Khăm Panh. Đến cửa rừng có con suối trong, có đàn cá quây quần bơi. Trong dạ phân vân , Khăm Panh bảo các em : “Ta đi đất còn muốn giữ chân, ngõ sân rồi mọc rêu xanh rêu đỏ, dành đường cho cỏ tốt um. Không có màu áo trắng áo đen hàng khuy bướm bạc làm đẹp lòng thung, vắng tiếng hát ru ngọt ngào của mẹ bồng con.”

Khăm Khiên nói :”Cái đầu phải nghĩ. Đi đừng để nốt dấu chân, chớ để tàn đóm rụng đầy lối cỏ. Lánh nạn làm dẫy nhà sàn , làm nương làm rẫy.”

Khăm Kéo vác tên cầm cung nói : “Nghĩ mà nhớ phường săn, thương dấu chân con don con dím, thương con suối thức theo trời mưa, nhớ người đi cấy tát nước ruộng mang mùi bùn bên vai.”

Khăm Lụa ngồi trên tảng đá trắng thở dài nói : “Cái lù cở trên lưng đã nặng. Nắng hôm nay héo lá héo rêu. Chàng còn muốn mang theo con mèo, dắt theo con chó, cõng cối giã gạo, chờ ngày đâm cối chày tay, nhà sàn vương khói.”

Khăm Panh thắt lại dây lưng dao nắp, sửa lại khăn vắt lên vai, nói : ” Ta đi lâu năm ắt thương mường cũ. Các em chớ vội kể nhiều lời kiêng. Hãy hướng hai mươi đèo bước gấp. Hướng đồi thấp tìm bản. Chọn núi yên rừng lặng đi theo dân mường. Tìm cây lau bóc đòng mà ăn. Gặp lúc rừng nhiều gió nhiều sương thì dựa vào vai nhau mà ngủ. Không sợ lối rình của hổ. Không sợ voi khùng đón đường. Lấy ngọn đuốc sua cọp dữ. Lấy tổ ong tổ kiến đuổi voi điên.”

Từ đó bốn anh em nhà Khăm Panh chào mường chào bản mà đi tránh loạn. Vào đến mường Mun đất lạ, Khăm Panh kéo áo Khăm Khiên bảo ra rừng hái rau rớn rau xắng, rỉ tai Khăm Kéo nói : “Ngồi lên hòn đá nghỉ sức cho khỏe chân, đưa ống tên để anh đi bắn. Bắn được con chim cánh đỏ, con chuột đuôi dài, làm bữa ăn rừng tạm qua.”

Khăm Panh bảo Khăm Lụa : “Em út chớ vội đi tìm quả chín đất lạ hay có rắn. Đi xa dễ lạc. Đầu rừng có quả sung quả vả lấy mà ăn.”

Đi mãi mà chưa tìm được nơi ở. Lương ăn đã hết phải đào củ mài củ nâu, hái rau rừng bắt ốc suối, lên núi bắn con cáo con cầy. Một hôm Khăm Panh lại tính kế: Chia Khăm Kéo Khăm Lụa đi ở mỗi người một nơi, dựng cửa dựng nhà, làm nương làm rẫy sinh sống. Khăm Panh Khăm Khiên trở về mường cũ giữ đất giữ nhà để có cách tiến lui, đối phó với giặc ngoài biên giới. Nghe ngóng giặc tràn sang hay giặc qua núi khác. Củng cố cửa nhà dành dụm của cải để khi hết giặc đón các em trở về.

Đi lâu trở về mường sân rêu nhà mốc, bản hoang vắng lặng chẳng có bóng người. Con ve kêu rầu rĩ gợi buồn. Khăm Panh đi rừng lắng tai nghe mõ trâu mường bạn, nghe vọng tiếng cồng chiêng mường xa. Nghĩ ra kế bàn với Khăm Khiên đi rủ người các nơi về hợp sức dựng mường cho giầu mạnh. Khăm Khiên nói: “Rừng có hổ chém hổ mà đi. Qua suối chém thuồng luồng mà bước.”

Một ngày nọ đến đất mường lạ, lại nghe đồn ở mường trên có nàng mắt đẹp, tóc dài , môi đỏ, mặt tròn xinh , lá trầu còn thua mềm mỏng, có nhiều tài. Nàng hát hay chim rừng quên ăn trái, cá suối ngừng bơi lắng nghe. Tên là nàng Mứn dễ thương sao ! Khăm Panh bàn cùng em hôm sau nắm cơm đi ăn đường đến đất nàng Mứn. Khăm Phanh lên tiếng:

-Nàng Mứn cho tôi gửi lời chào ! Tôi nói câu hợp lòng thì nghe, trái ý thì trách. Tôi là con trai đất cửa rừng. Người trong mường chạy loạn đã đi hết. Tôi muốn có nàng về dựng cửa dựng nhà cho ăn nên làm ra, dựng mường giầu mạnh đẹp người đẹp đất. Mường rộng chẳng thể ở một thân, cơm ăn không nỡ một mình một mâm, một bát, một đũa.

Nàng Mứn bỡ ngỡ nói nho nhỏ :

-Em là con gái mồ côi, ở đất lạ mường người, nhà cửa của người, nương rẫy của người cho làm theo. Bây giờ chàng bảo điều nên thì xin nghe. Nhưng sức gái ngắn hơi, thân phận nghèo, sợi chỉ buộc cổ tay thì có nên chăng?

-Anh trai ta chưa có người vác nước, dệt vải làm chăn, chưa có ai mở đất dựng mường, xin nàng vui lòng thuận ý!

Nàng Mứn đầu hơi cúi, búi tóc ngược sừng trâu, bước theo anh em Khăm Panh về mường. Khăm Panh Khăm Khiên lo việc rèn dao, đúc súng, làm cung nỏ, luyện tập binh mã giữ mường. Nàng Mứn được giao việc cầm quân làm nương rẫy trồng lúa ngô tích trữ lương thảo.

Nghe tiếng Khăm Panh nàng Mứn có tài nhiều người tìm về xin làm quân gia. Nàng Mứn trông coi trên một ngàn người nông binh. Dần dần đông lên quân số hàng vạn. Bản mường giầu có, nhà gỗ 9 gian gỗ lim gỗ sến. Trâu bò đàn dần lũ lũ , các kho lúa ngô đầy ắp. Nàng Mứn mua thuyền đồng vượt sông ngày lũ, sắm ghế bằng da hổ cho khách ngồi chơi.

-Chàng làm tạo mường. Nàng Mứn làm việc lớn của mường cả hai đều có tài lo việc trọng đại. Cây sú ước được đứng bên cạnh cây trám cao. Nay bản mường đã hùng mạnh giữ đất giữ mường trừ giặc. Nay người mường muốn chàng nàng kết đũa có đôi thì mới yên lòng.

Khăm Panh xúc động cảm ơn già làng rồi bàn việc cưới xin.

Cuộc họp của mường nàng Mứn nói :

-Khăm Panh lo rượu thiếu tay con gái làm men, uốn cần, giã gạo, lấy lá làm bánh giúp chàng, thiếu tay làm chăn làm đệm giúp Mứn.

Già làng cầm con dao chém phập vào cây sến nói :

-Việc này dân bản ta lo được hết!

Nói rồi giao việc cho mọi người làm ngay. Đoàn người đi săn bắn hươu nai lợn lòi hổ sơn dương về làm tiệc cưới. Khăm Khiên đi gọi hai em về dự. Khăm Lụa mừng anh trai 15 con trâu đực. Khăm Kéo mừng chị dâu 46 gánh bạc nén. Khăm Khiên lo việc giết mổ. Khăm Panh lo việc đong rượu. Nàng Mứn lo việc cơm canh đãi dân bản. Khăm Kéo lo việc nhận quà tặng. Khăm Lụa cùng trai mường lo việc hát khắp đón mời. Tiệc cưới ăn mừng, hát tới năm canh khuya, múa xòe hết tháng.

Hai vợ chồng sống hạnh phúc sinh được 7 trai 2 gái.

Mường nàng Mứn chàng Panh giầu có thịnh vượng. Các mường trên mường dưới về thăm có sẵn chum rượu 40 cần trúc. Có gạo nếp 10 năm xông khói. Nóc nhà trong mường no khói quanh năm. Tiếng đồn khắp mường xa kẻ chợ.

Khi ấy Khun Ha ở mường trên biên giới đến nhòm ngó, muốn dắt giặc ngoài đến xâm chiếm, nhưng thấy sức Khăm Panh mạnh như hổ, quân nàng Mứn đông như lá rừng, bèn giả làm người thợ bạc nói với Khăm Panh :

-Tôi muốn đến đây làm đẹp làm sang cho bản mường. Đúc vòng cổ, vòng tai, ống vôi, đánh dây xà tích, khảm khay ngà đúc chén bạc.

Một hôm Khun Ha cưỡi ngựa đeo gươm vượt suối vào mường. Bỗng nghe tiếng reo hò bốn phía tên bắn ra như ong bay, đá nhảy tưng tưng vây chặt để bắt sống. Chợt Khăm Panh đến bảo cho Khun Ha vào mường, dựng nhà gỗ lim cho ở, Khun Ha trao ngựa và gươm cho Khăm Panh , mở lò đúc bạc, đúc bàn đạp yên ngựa cho nàng Mứn.

Khun Ha ở được 9 năm , kiếm cách lấy được Khăm Xao là con gái Khăm Panh làm vợ. Khi Khăm Panh nàng Mứn già yếu, Khun Ha nghĩ kế chiếm mường lấy lại ngựa quí và gươm báu. Khun Ha bắt Khăm Xao mang đi. Giữa đường Khăm Xao ăn lá ngón chết.

Khăm Panh nàng Mứn biết được âm mưu của Khun Ha đón giặc ngoài về cướp mường, liền cho mọi người chuyển vào rừng xa lánh vào núi. Khun Ha trở lại thấy mường vườn không nhà trống bèn cho quân lập trại kín mường.

Khăm Panh giữa rừng ốm rồi chết. Nàng Mứn cầm quân vỡ đất thung dài. Khăm Khiên Khăm Kéo Khăm Lụa có trên 5000 quân. Sau khi có đủ lương thảo vũ khí, họ đưa quân về đánh đuổi Khun Ha. Nàng Mứn cưỡi ngựa hồng đi đầu, đội khăn tang, mắt sáng quắc, Khăm Khiên từ phía trên đánh xuống, Khăm Lụa từ phía phải đánh sang.

Khun Ha biết tin ra chặn quân nàng Mứn. Nhưng sau giả vờ lui, nàng Mứn đuổi theo bị quân mai phục trong hẻm núi bắn ra, tên thuốc độc trúng tay, ngựa nàng Mứn vẫn xông lên, kiếm vẫn chém giặc. Bỗng nhiên nàng hoa mắt cầm không vững dây cương, Khăm Khiên Khăm Lụa phải cứu đưa về đến nhà thì nàng chết.

Quân Khăm Khiên bắn súng vào phía trước trại Khun Ha. Khăm Kéo đưa quân ập đến từ phía trái. Khăm lụa kéo quân từ phía dưới lên. Đạn vào tên ra mù mịt. Khun Ha đóng cửa thành cố thủ. Chẳng bắt nổi Khun Ha , họ cho rằng hắn có phép ma. Khăm Khiên nằm mơ thấy anh chị Khăm Panh nàng Mứn báo mộng rằng nó chẳng có phép ma quỉ gì đâu, các em cần lo có nhiều lương ăn quân giỏi là thắng. Muốn thắng nó : “Người và của là cái khôn đi trước.” Sáng ra Khăm Khiên báo tin này cho hai em và dân mường biết để quyết đánh giặc đến cùng.

Được tin Khun Ha lấy vợ kế. Quân nó ăn mừng nhà mới, tối mắt rượu cần với mâm thịt đầy, mê say hát khắp gái trai, đốt lửa múa xòe te tởn. Anh em Khăm Khiên và dân bản đi lẻn đêm đánh úp giặc. Giặc đông như lá rừng giết không xuể. Khăm Kéo bị trúng đạn. Khăm Khiên bị giặc bắt. Khăm Lụa rút quân đi rừng xa chuẩn bị lực lượng để có dịp trở lại đánh. Khun Ha cho quân đi càn quét giết hết ba họ nhà Khăm Panh.

Khăm Lụa chuẩn bị một nghìn gà lông vàng để quân tướng ăn thề chiếm lại mường giữ đất, một nghìn gà lông trắng cúng tổ tiên.

Khun Ha làm tạo quan cai quản mường này. Dân chúng phải đến làm cuông làm nhúc, làm ruộng nương nộp cá ngon, sừng nai, mật gấu, mật ong cho nhà tạo. Con gái đẹp đến múa xòe hầu tiệc rượu, người già nộp rượu cần.

Nhà Khăm Panh còn một nàng dâu thứ tư là nàng Danh trốn thoát. Nàng đang có thai, khấn bố mẹ chồng phù hộ. Khăm Panh hóa thành con bướm vàng, nàng Mứn hóa thành con bướm trắng bay về đậu vào vai vào tóc con dâu. Nàng Danh yên lòng.

Khun Ha đã già yếu giao cho con trai là Khun Ý Lân thay cha làm tạo mường, bắt dân chúng phải lấy gỗ sến, gỗ táu làm nhà sàn 10 gian, phải nộp một trăm trâu đực để cúng Thần rừng, một trăm con lợn tạ để cúng Thần núi. Ai không có phải phạt đánh trăm gậy, ai chống lại phải treo cổ.

Khăm Lụa rút quân đi ở mường xa được tin Khun Ý Lân đang cúng vía cho bố, đang bận khách chín bản mười mường, đang mải say rượu thịt, gái xòe, bèn lệnh cho quân đánh úp lúc trâu còn ngủ, lúc chó còn mải gặm xương. Súng nổ kêu vang núi. Tên bắn như mưa. Hai bên quân chết máu chảy thành suối. Quân giặc đông phản kích. Khăm Lụa bị trúng tên thuốc độc chết. Khun Ha mừng thầm là họ Khăm Panh chẳng còn ai để trả thù nữa.

Được tin Khun Ý Lân đang bộn bề tang gia bối rối, đã đến lúc trả hận, Khăm Khoong đêm kéo quân về kín mường, chật bờ suối. Trong thành có quân làm nội ứng đốt nhà. Ngọn lửa cháy rực sáng quắc những lưỡi dao lưỡi kiếm. Khun Ý Lân vừa rời khỏi chân thang đã bị Khăm Khoong chém đầu văng xuống chân ngựa. Cả nhà họ Khum Ha chết thui.

Cồng chiêng vang đầu núi, trống gọi vọng sân mường, Khăm Khoong mặc áo lụa đỏ lưng thắt khăn xanh, tay kiếm hai sải, cưỡi con ngựa hồng cùng dân mường mừng vui thắng trận.

Dòng họ Khăm đã về làm tạo mường của mình, trâu ăn cỏ đồi cao không còn sợ hổ, sợ beo. Người dân mường không sợ mất đất về tay giặc ác.

Mường Ôm mường Tum Hoàng ở châu Tùng Lăng, Hoàng Nham, mường Óc, mường Ác, mường La Bộ Tây Vu nước Văn Lang là quê hương của người Thái đen.

Con cháu Tum Hoàng đã từng phò Thục Chế Thục Phán và Tây Vu Vương chiếm đóng các đồn chốt đôi bờ nậm Ta nậm Tao ở Bộ Kỳ Hưng và Tân Hưng trong cuộc chiến tranh Hùng -Thục và kháng chiến chống Lộ Bác Đức. Do đó họ từng biết nơi đây là miền đất đai màu mỡ, sản vật trù phú, dân cư người Xá, người Thái trắng, người Thái Lự, người Sinh Lão thưa thớt.

Ngày ấy người Thái đen ở bộ Tây Vu bùng nổ dân số họ chia nhau đi tìm mường ăn đất sang phía đông Vân Nam, Quí Châu, Hùng Sở Bộ Võ Định thành người Thái Lự Choang ngày nay.

Một bộ phận người Thái đen do Tạo Xuông Tạo Ngần cầm đầu thả bè xuôi nậm Tao xuống đại đồn cũ của Thục Phán và Tây Vu Vương ở Văn Yên Trấn Yên lập mường Min ròi theo ngòi Thia ngòi Lâu vào cánh đồng bồn địa Văn Chấn lập mường Lò (Nghĩa Lộ). Tại đây người Xá đã giữ đất đánh lại Tạo Xuông, Tạo Ngần quyết liệt nhưng không giữ nổi phải bỏ chạy lên miền thượng nậm Ta Than Uyên, Quỳnh Nhai.

Tạo Xuông Tạo Ngần về trời, truyền ngôi cho bảy con làm tạo là Tạo Đúc , Tạo Đẩu, Tạo Lò Ly, Tạo Lặn Lỳ, Lạng Ngang, Lạng Quang và cháu là Lò Lạng Chượng làm Tạo Mường Lò tái tthiết lại cơ ngơi của ông bà Ải Lậc Cậc xưa. Lò Lạng Chượng xây dựng lực lượng quân đội Thái đen hùng mạnh tiến hành một cuộc chiến tranh 20 năm chiếm bản chiếm đất của người Xá hai bộ Tân Hưng và Kỳ Hưng lập mường ăn mường rộng khắp. Lò Lạng Chượng nói :

-Trước đây ông bà Ải Lậc Cậc, ông bà Tạo Cập Ý Kè đã khai mở các mường nhất Thanh nhị Lò tam Than tứ Tắc cho con cháu. Chúng ta đã giành lại mường Lò chưa đủ, phải tiến lên đánh đuổi người Xá giành lại các mường tiếp theo !

Quân dân Thái đen Mường Lò đồng thanh hô lớn :

-Tạo Lò sáng suốt vạn vạn tuế !

Thoạt tiên Lò Lạng Chượng đem quân đánh người Xá cướp mường Mon (Tú Lệ ), mường Khin Than Uyên , mường Khao Văn Bàn. Đánh đến đâu Lò Lạng Chương đem dân Thái đen đến ở lập tạo quản mường ăn mường. Thừa thắng Lò Lạng Chượng tập trung quân đánh chiếm mường Chiến, vượt nậm Ta chiếm Tạ Bú. Chiến sự nơi đây rất ác liệt vì thế có tên mường Chiến. Quân Xá do Khum Quằng chỉ huy đánh quân Thái đen thiệt hại nặng trên con đường hẻm núi chạy ra sông Nậm Ta. Xác quân Thái đen làm mồi ăn cho gấu chó lợn rừng xơi xả láng. Phải nhờ quân tiếp viện từ mường Lò, quân Thái đen mới chiếm được mường Chiến. Lò Lạng Chượng đánh thắng Khun Quằng, kéo quân lên mường Muỗi. Tại đây quân Thái đen vấp phải sự chống trả của người Xá đứng đầu là Ăm Poi dân tộc Kháng. Không thắng nổi, Lò Lạng Chượng giả vờ hòa hiếu xin cưới con gái Ăm Poi là nàng Pha Nhăng xinh đẹp làm vợ, lấy tình con rể trọng đãi bố vợ làm cơ hội giết chết Ăm Poi. Hôm ấy con rể bố vợ chúc nhau uống rượu say ngà ngà rồi thách nhau đấu kiếm. Con rể hỏi bố vợ :

-Bố đấu hay rượu đấu?

Nhân Ăm Poi vấp hòn đá mất đà, Lò Lạng Chượng phóng đường gươm trúng tim Ăm Poi chết ngay! Nàng Pha Nhăng vừa đau đớn vừa uất ức chỉ tay vào mặt Lò Lạng Chượng, mắng :

-Mày là thằng chồng giả khốn kiếp ! Mày mưu kế lấy tao làm vợ và mượn rượu giết bố tao để cướp mường Muỗi! Ải Trạng Noi trên trời xuống sẽ trừng phạt mày!

Tức thì Lò Lạng Chượng phát điên tuốt gươm chém bay đầu người vợ không một chút run tay!

Nhờ gian kế đó, Lò Lạng Chượng lấy được mường Muỗi. Ngày nay ở Lai Châu vẫn còn núi Ăm Poi, nơi tù trưởng bị giết, ao cá và những hòn đá buộc voi. Người Thái và người Kháng địa phương vẫn thờ cúng người anh hùng Ăm Poi và gọi ông là Thần Pú Châu (Chủ đất mường ).

Lò Lạng Chượng định chiếm mường É, mường Quài ( Tuần Giáo ) thì bị mắc lừa của tướng người Xá trá hàng là Lường Khun dân tộc Kháng làm nội phản, tập hợp người Xá chặn quân Thái đen không vào được mường Thanh. Lò Lạng Chượng bị thất bại nặng nề. Trong một trận lừa quân Thái đen vào tiếp quản mường, đang tiệc rượu thịt và gái xòe say sưa, quân Kháng đánh úp giết sạch 5000 quân Thái Đen. Lò Lạng Chượng thoát chết bèn cấu kết với người Lự ở mường Thanh và Phông sa lỳ Bộ Ai Lao, gặp tù trưởng, nói :

-Chúng ta cùng con cháu của Then , ông bà Ải Lậc Cậc, ông bà Tạo Cập Ý Kè cùng trong 5 giống Thái là anh em như thể chân tay, cùng nhau hiệp sức giải phóng mường Then đất tổ làm chủ thành Sam Mứn của ông cha để lại!

Tù trưởng người Lự cắt tiết gà trống tơ uống máu ăn thề cùng Lò Lạng Chượng bày binh bố trận trong đánh ra ngoài đánh vào hạ thành Sam Mứn, mới thắng Lường Khun lấy được mường Thanh.

Sau 20 năm vừa lập mường vừa chiến tranh ròng rã, Lò Lạng Chượng tiến quân từ mường Lò đến mường Thanh, chiếm mường Chiến mường Trại mường Bú… vào mường La qua Khau Hào tới mường Muỗi ( Thuận Châu ) sang mường É mường Quài ( Tuần Giáo ) xuôi theo suối xuống dọc sông Mã sang Bộ Ai Lao (Thượng Lào ) qua Hua Cảnh , Long Chuông vào lòng Chảo mường Then, lên làm chúa Thái đen hai Bộ Kỳ Hưng và Tân Hưng . Người Thái đen Bộ Tây Vu thiên di đến Tây Bắc Việt Nam ngày nay từ đấy.

(Tổng hợp từ Quấn Tố Mường, sách Nguồn gốc lịch sử các dân tộc biên giới phía Bắc Việt Nam và các tài liệu khác)

Ngày ấy ở Châu Yên Sơn La có động Ngưu Hống. Chúa động là một tạo mường Thái có tên là Ngưu Hống. Ngưu Hống nói với quân gia :

-Người Thái chúng ta dù áo trắng áo đen sống ở đâu cũng là con của Then! Then cho chúng ta quyền thay Then hành đạo trên trần gian. Từ mường Then, mường Ôm, mường Tum Hoàng cha ông ta đã lập quốc. Năm 258 trước công nguyên Thục Phán đã lập nước Âu Lạc hòa hợp Âu Việt và Lạc Việt chống Tần Hán xâm lược! Mới đây lập nước Myanma với triều đình Thái Shan. Thời nhà Đường đô hộ An Nam còn mạnh, Lò Lạng Chượng xưng chúa mường Then mà chưa dám xưng vua, lập xứ Thái mà chưa dám lập quốc. Lúc này, Đại Việt đang thịnh, Nhà Lý cầm quyền. Thái Ngưu Hống ta chưa có cơ hội lập quốc. Để tiến tới lập quốc, trước tiên Ngưu Hống ta phải liên kết chặt chẽ với chúa Ai Lao thống nhất văn tự Thái – Lào, phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, tích trữ lương thảo, sản xuất vũ khí, huấn luyện quân đội tượng binh kỵ binh hùng mạnh. Về sách lược trước mắt ta đi bài thần phục Nhà Lý Đại Việt, triều cống ngà voi sừng tê da xương hổ mật gấu trầm hương vàng bạc thật nhiều, tung giám điệp nằm vùng kẻ chợ Thăng Long. Về chiến lược khôi phục nước Âu Lạc nghìn xưa của người Thái -Tày, không thể để chú em Kinh Keo làm vua mãi mãi! Chúa động Ngưu Hống một ngày không xa phải làm vua Đại Thái trị Đại Việt và phạt Đại Tống.

Quân gia động Ngưu Hống đánh trống đồng Sông Đà tung hô ầm ĩ :

-Chúa Ngưu Hống vạn vạn tuế!

Mùa xuân tháng 2 năm 1067 Đinh Mùi, chúa Ngưu Hống và chúa Ai Lao được gián điệp Kẻ Chợ cho biết Triều Lý Thái Tông rối ren có loạn Tam Vương tranh ngôi vua, cơ hội đánh Đại Việt đã đến, nhưng chưa tin bèn cưỡi voi chở báu vật xuống Thăng Long cống nạp, đi theo bờ hữu ngạn sông Đà. Vào Thăng Long, Trước bệ rồng, hai chúa Ngưu Hống và Ai Lao đồng thanh tấu:

-Muôn tâu Bệ hạ! Chúng thần theo truyền lệ hành trình không quản ngại núi đèo tới đây chúc mừng Bệ hạ vạn vạn tuế! Gọi là có chút quà nhỏ mọn, đặc sản rừng núi ngà voi, sừng tê, da xương hổ, mật gấu, hương trầm , vàng bạc, thổ cẩm, tất cả ba mươi sáu hòm kính biếu!

-Khá ! Các ái khanh trung thành với trẫm giữ lễ nghĩa nghìn xưa đúng như Thục Phán chầu vua Hùng Duệ! Trẫm cảm tạ ! Nhân đây trẫm phong cho hai ái khanh là chủ trấn lộ Sông Đà và Ai Lao.

-Người này có sức nhổ cây cổ thụ mười người ôm làm gậy đó ! Tướng quân mới lập công giết một vương, nhốt cũi hai vương khởi nghịch vừa qua!

Chúa Ngưu Hống và Ai Lao tham quan Hoàng thành Thăng Long, thăm ba sáu phố phường Kẻ Chợ rồi trở về xứ Thái theo đường bộ Xuân Mai, Hòa Bình, Sơn La, mường Then, Phông Sa Lỳ. Chuyến đi của hai chúa đạt được mục đích gián điệp vẽ bản đồ quân sự hành binh đánh Đại Việt trong những năm tới .

Năm Tân Mùi 1151 thời Lý Anh Tông, Tướng quân Lê Phụng Hiểu đã mất, Ngưu Hống và Ai Lao cất binh đánh Đại Việt tiến vào Lâm Tây đốt cướp giết hiếp vùng Bất Bạt Quảng Oai Tùng Thiện Thạch Thất Phúc Thọ. Trước hành động tàn bạo dã man của quân đội Ngưu Hống – Ai Lao, một con châu chấu chạy hỏa hoạn đậu trên đầu voi của chúa Ngưu Hống, hỏi:

-Ngạn ngữ Thái có câu “Xá anh, Kinh em chú”. Nhưng sao đốt cướp giết hiếp người Kinh khủng khiếp thế?

-Chiến tranh mà! Đốt cướp giết hiếp là niềm vui thú của lính mà!

Vua Lý Anh Tông đích thân chỉ huy quân đội Thăng Long và các lộ Tây Bắc Đại Việt Kỳ Hưng Hưng Hóa đuổi quân Thái – Lào về ngọn nguồn sông Đà.

Năm Đinh Mão 1159 Ngưu Hống và Ai Lao lại cất binh đánh Đại Việt theo hai đường Mộc Châu Hòa Bình Chương Mỹ và theo Sông Đà đến Ngã Ba Ba Hạc. Triều đình nhà Lý cử tướng Tô Hiến Thành đem đại binh đánh dẹp. Chật vật lắm mới đuổi được Ngưu Hống – Ai Lao về mường của họ.

Thua hai trận chưa đến được Kẻ Chợ, Ngưu Hống- Ai Lao trở về càng tăng cường tuyển quân chọn tướng ráo riết chuẩn bị cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần thứ ba sống mái một phen tỏ chí anh hùng khai quốc Đại Thái: Thái Trắng Thái Đen Thái Lự anh trưởng thiên hạ!

Lợi dụng lúc nhà Lý suy vong nhà Trần ra đời, lòng người hoang mang nghiêng ngả, Ngưu Hống Ai – Lao lại tiến đánh miền Tây Thăng Long, Các vua Trần Thái Tổ, Trần Thái Tông tiếp nhau cử binh hùng tướng giỏi ăn không ngon ngủ không yên, mới đánh đuổi được Ngưu Hống Ai Lao về mường của họ. Trận đánh ở Ngã Ba Lời chỗ sông Đà và sông Hồng gặp nhau, thủy quân Nhà Trần do Đô Dù Trần Quang Đạo chỉ huy, đóng tại xóm Tuần kẻ Lời đã đánh tan thủy quân Ngưu Hống lấy đầu tướng giặc Lường Khun tế tại đền Nhà Bà bên ghềnh Lời. Trần Quang Đạo bắt tù binh Ngưu Hống đắp bờ chống úng và chống hạn cho đồng Lời. Họ dùng tre đóng cọc rồi đắp đất xắn bằng mai, từ ấy đến nay mang tên Thái gọi là Bờ Pheo.

Nhà Trần bắt đầu ra chỉ dụ các tù trưởng Thái Trắng, Thái Đen, Thái Lự, Xá, Tày an dân thái mường sẽ được làm phò mã và được phong pú châu mang họ nhà vua. Do đó các phiên lộ Sông Đà, Hưng Hóa, Tuyên Quang mới được bình yên. Con cháu Ngưu Hống- Ai Lao ở mường Then vẫn nuôi chí Đại Thái nhưng quay về sông Mê Công thôn tính các bộ lạc lập nhà nước Thái Lạng Sạn ở Lào, Ayuthawa, Sukhôtai, La Na ở Thái Lan thế kỷ 13-14 .

Lò Cẩm Tú kể- Ghi ở Mường Lò 1980.

Ngày ấy tạo tìm mường và ăn mường, người Thái trắng ở Phông Sa Lỳ Bộ Ai Lao đã kéo sang cao nguyên Mộc Châu ( Sơn La) Bộ Kỳ Hưng lập ra mường Muôi. Cháu hai mươi đời của tạo mường Muôi là Sa Khả Tham, một chàng trai khôi ngô tuấn tú văn võ song toàn lấy nàng Tông Va xinh đẹp tài hoa hát khắp và dệt thổ cẩm làm vợ. Hai người đang chung chăn gối nồng nàn hạnh phúc thì giặc Minh đã ồ ạt xâm lược Đại Việt. Quan cai trị nhà Minh đã sức xuống mường Muôi nạp sừng tê ngà voi. Sa Khả Tham cầm tay vợ nói :

-Đất nước bị nhà Minh xâm lược rồi. Gái thời bình, trai thời loạn. Anh phải xa em để lo việc cứu nước cứu mường. Em thấy thế nào ?

Nàng Tông Va không cầm được nước mắt nói :

-Từ ngàn xưa người Thái mình vẫn thế. Có giặc là nam nhi lên đường cầm binh đao. Vợ chồng phải xa nhau là lẽ thường thôi! Em ở nhà trông nom mẹ già dệt thổ cẩm đợi anh về trong ngày giặc tan.

Nói rồi nàng tiễn chồng cưỡi voi , khoác nỏ, đeo kiếm , cầm giáo ra đi, đã ra khỏi bản, vẫn còn ngoái đầu nhìn theo cho đến khi con voi cõng chồng khuất trong rừng cây.

Sa Khả Tham đến nhà tạo mường Muôi thì thấy Chủ mường đang tức giận xé tờ sắc thu ngà voi sừng tê của giặc. Sa Khả Tham cả mừng, bàn bạc với Chủ mường kế hoạch đánh giặc Minh giữ nước. Chủ mường phấn khởi lắm bèn cho nổi trống đồng Sông Đà dựng cờ khởi nghĩa. Thanh niên trai tráng các bản kéo về đầy mường Muôi uống máu ăn thề đánh giặc giữ mường cứu nước. Sa Khả Tham được cử làm Tướng quân Thái Mộc Châu chỉ huy năm nghìn tay đao hùng dũng tiến đánh châu phủ thắng lợi. Sa Khả Tham cho giết trâu làm cỗ tế Thần Linh và ăn mừng. Trong lúc đang vui vẻ thì có người áo đỏ phi ngựa tới nói :

-Hỡi các bạn dân tộc Thái anh em! Tôi là người Tày Đại Từ Thái Nguyên là sứ giả của phong trào Hồng Y cứu nước đã giấy lên từ 1-10- 1410 tại quê tôi. Chủ tôi có lời chào anh em thân thiết cùng gọi gà là cáy, lợn là mu, cùng câu thề nghìn xưa “Tức Hác pác pi” ( Đánh Hán trăm năm !), và kêu gọi anh em tham gia phong trào Áo Đỏ. Nếu anh em nhất chí thì xin mời vị chủ tướng của anh em lên nhận một cái áo đỏ của chủ tôi kính biếu!

Sa Khả Tham lên nhận và mời sứ giả vào lầu phủ Mộc Châu thiết đãi cơm rượu, hỏi thêm tin tức hoạt động của phong trào Áo Đỏ đã lan rộng khắp các vùng thượng du Việt Bắc Tây Bắc. Sa Khả Tham nói :

-Ta hiểu một cây làm chẳng nên non. Do đó ta xin gia nhập phong trào Áo Đỏ cứu nước cứu mường. Ông về nói với chủ phong trào hộ ta. Nhân đây ta gửi ông mang về tặng chủ phong trào một cái sừng tê chiến lợi phẩm đầu tiên của nghĩa quân Thái Sơn La.

Sứ giả rất xúc động nhận sừng tê rồi từ biệt trở về Thái Nguyên báo cáo với chủ. Từ ấy sứ giả là con thoi liên lạc của phong trào giữa Thái Nguyên với Sơn La.

Năm 1418 Lam Sơn Thanh Hóa khởi nghĩa, Lê Lợi là Minh Chủ. Lê Lợi cử sứ giả ra Đông Quan đón Nguyễn Trãi, lên Việt Bắc đón các thủ lĩnh phong trào Áo Đỏ Hoàng Đại Hòe ( Lạng Sơn ), Bế Nhật Thiệu (Cao Bằng), Lưu Nhân Chú (Thái Nguyên), Ma Doãn Đào (Hà Tuyên), lên Tây Bắc đón Sa Khả Tham và Tam Đái Bạch Hạc đón Trần Nguyên Hãn. Nhưng hai anh em Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn đã vào Lam Sơn mà Lê Lợi vẫn chưa biết, để cấp dưới phân công Nguyễn Trãi làm thư kí kho, Trần Nguyên Hãn làm người đi thả bè.

Nhận được hiệu triệu của Lê Lợi, Sa Khả Tham đã kéo quân xuống Lam Sơn tham gia Hội thề Lũng Nhai. Sa Khả Tham cùng Trần Nguyên Hãn đem nghĩa binh đánh phía Nam giải phóng Nghệ Tĩnh, Tân Bình, Thuận Hóa rồi tiến ra Bắc đánh thắng giặc ở Trúc Động ,Tốt Động và bao vây Thành Đông Quan đóng tại trại Bồ Đề. Sau chiến thắng Xương Giang và Chi Lăng, Sa Khả Tham tháp tùng Lê Lợi vào thành Đông Quan dự Hội thề đầu hàng của Vương Thông.

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) toàn thắng, Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế đã phong chức thưởng công cho Sa Khả Tham là một trong 27 anh hùng khai quốc, làm Tuyên úy tổng quản phiên lộ Đà Giang và được mang họ vua. Sa Khả Tham đón mẹ già và nàng Tông Va lên phủ Tây An hưởng vinh gia hiển quốc. Người Thái Trắng Thái Đen người Xá Tây Bắc vui hưởng thái bình.

Cầm Ngọc Tú kể- Ghi ở Mường Lò 1980.

Ngày ấy ở mường Trắng nay là xã Thọ Sơn Anh Sơn Hà Tĩnh, hai vợ chồng người Thái sinh được cậu bé khôi ngô tuấn tú, mặt vuông chữ điền, tai to mắt sáng, tướng mạo quan sang. Cha mẹ đặt tên Thái là Khả Lam, thầy đồ đặt tên chữ là Trương Hán. Cha mẹ nuôi dạy chu đáo cho học chữ Thái chữ Hán Nôm.

Lớn lên , Trương Hán được bổ nhiệm chức tù trưởng tộc Thái ở Anh Sơn. Thực hiện đạo lý làm người quân tử, Trương Hán phấn đấu thành một tù trưởng hùng mạnh, quản dân an mường thái. Tù trưởng có đội dân binh 5000 người thiện nghệ cung tên đao kiếm, khiển voi cưỡi ngựa. Lương thảo tích trữ mấy chục kho. Voi ngựa trâu vài nghìn con.

Đất nước đang thanh bình, Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần. Mượn cớ phù Trần diệt Hồ, nhà Minh xâm lược Đại Việt.

Trương Hán ráo riết chuẩn bị lực lượng chờ có minh chủ phất cờ để theo phò cứu nước.

Quân Minh tràn đến lập đồn Bồ Đằng , Trà Lân. Trương Hán tức mắt lắm, nhưng vẫn phải ngậm bồ hòn làm ngọt với giặc, ra vào cửa quan Minh để biết người biết mình mà lượng sức đối phó giữ yên mường Trắng.

Được tin Lam Sơn khởi nghĩa, Minh chủ Lê Lợi tiến quân vào Anh Sơn, Trương Hán trống dong cờ mở, dẫn dân mường nghênh đón, giết trâu mở tiệc rượu thịt thiết đãi nghĩa quân. Trương Hán rước Lê Lợi về nhà sàn mái rùa tranh vàng của mình bái yết. Trương Hán tâu :

-Bẩm Minh chủ ! Thần dân có năm ngàn quân binh, một ngàn voi ngựa, hai ngàn trâu, ba mươi sáu kho thóc lúa xin được tham gia nghĩa quân khôi phục giang sơn xã tắc!

-Đa tạ ! Xin mời tù trưởng vào Lam Sơn tụ nghĩa trừ Minh phục quốc!

Trương Hán lấy tấm bản đồ đồn thành Trà Lân, Bồ Đằng tự vẽ của mình chưa ráo mực dâng lên Lê Lợi. Dưới ánh đèn khuya, Trương Hán chỉ dẫn cho Minh chủ biết đường đi lối lại các hệ thống phòng thủ của địch, rồi cùng Lê Lợi bàn bạc kế hoạch phối hợp nghĩa quân và dân binh mường Trắng tấn công đánh úp đồn thành Bồ Đằng và Trà Lân. Minh chủ nói ra, tù trưởng nói vào , đều đồng kiến đồng lòng phá giặc. Việc quân đã hòm hòm thì một tốp dân binh của Trương Hán dẫn về nạp một tên thám báo của giặc vừa đột nhập vào mường Trắng. Lê Lợi và Trương Hán tra xét tên gián điệp khai thác được nhiều tin tức thống nhất với kiến đồ quân sự địch và biết thêm lực lượng mới điều động đến Trà Lân của chúng.

Sáng hôm sau, Trương Hán cưỡi voi cùng một trăm gia binh dắt ngựa thồ rượu, gạo nếp, và chục con trâu, mỗi gia binh dắt dao găm trong thắt lưng áo che ngoài, đến đồn thành Bồ Đằng cống nạp. Trương Hán giơ thẻ bài được phép vào thành. Viên quản binh Bồ Đằng nhận lễ vật sai giết trâu xôi gạo nếp làm cỗ Thái khao lính. Gia binh mường Trắng và quân Minh ngồi xen nhau các mâm. Gia binh Trương Hán chúc rượu quân Minh giót đầy bát liên tiếp. Trương Hán chúc rượu các tướng Minh. Tất cả say sưa túy lúy ngả nghiêng bên những gái xòe hát khắp đệm sáo pí pặp.

Trong trại rượu thịt lu bù. Ngoài trời bỗng nổi cơn dông sấm chớp ầm ầm. Một nghìn kị binh của Lê Lợi và mường Trắng phi tới. Nghĩa quân bắn pháo hiệu của địch, lính gác cổng thành mở cửa. Những vó ngựa rầm rập vào thành. Quân Minh đứa say ngủ như chết, đứa rượu vào lời ra nói huyên thiên. Gia binh của Trương Hán vung dao găm đâm giặc vô tội vạ. Nghĩa quân Lê Lợi và mường Trắng xông vào vung kiếm chém phứa. Những tướng Minh say sỉn trở tay không kịp bị Trương Hán và gia binh hầu rượu đâm chết tại chỗ. Mây dông vừa tan thì đồn Bồ Đằng bị san phẳng.

Một tên giặc phi ngựa chạy về đồn Trà Lân xin tiếp viện. Ổ mai phục của Nghĩa quân trên đường Bồ đằng – Trà Lân lặng im cho hắn đi. Tướng Minh đồn Trà Lân nhận tin, cất binh mã tức tốc ra đi, chỉ để lại một ít quân giữ thành. Chúng vừa đi được nửa dặm thì một ngàn kị binh của Lê Lợi và mường Trắng bắn pháo hiệu của địch, lính giữ thành Trà Lân mở cổng cho họ tràn vào giết sạch giặc chiếm thành.

Quân Trà Lân tiếp viện vào ổ phục kích của quân Lam Sơn ăn mũi tên đồng ba cạnh người ngựa chết như ngả rạ. Bọn sống sót quay đầu ngựa chạy về Trà Lân vào cổng thành đứa nào đứa ấy ăn mũi tên đồng ba cạnh người ngựa ngã lăn. Nghĩa quân phóng hỏa Thành Tà Lân cháy nổ như đốt đồi.

Kết cục nghĩa quân Lê Lợi và dân binh mường Trắng Trương Hán đại thắng diệt gọn sáu ngàn quân Minh ở hai đồn, tạo thế chủ động tiến công trên chiến trường, nức lòng quân đân cả nước:

( Bình Ngô Đại Cáo- Nguyễn Trãi)

Từ ấy, tù trưởng Trương Hán hiến hết gia tài cho Lê Lợi và đem năm nghìn quân theo Lê Lợi chiến đấu cho đến ngày khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng. Bình công thưởng phạt , vua Lê Lợi phong Trương Hán chức quận công. Ngày nay ở mường Trắng vẫn còn miếu thờ Khả Lam quận công.

Cầm Ngọc Tú kể- Ghi ở Mường Lò 1980

Động Ma Sa ở châu Ninh Viễn phiên trấn Đà Giang nay thuộc Lai Châu. Chúa động Ma Sa là Đèo Cát Hãn tù trưởng tộc Thái con cháu nhiều đời họ Đèo làm tạo mường.

Đèo Cát Hãn say mê sử Thái hâm mộ cha con Thục Chế Thục Phán chủ Bộ Ai Lao và Tây Vu hùng mạnh thời Hùng Vương, dám đương đầu với Tản Viên Sơn Thánh phúc thần Lạc Việt và Tần Thủy Hoàng ở phương Bắc lập nước mẹ Âu bố Lạc xây Loa Thành chế nỏ thần đánh tan 50 vạn quân Tần làm cho hiệu úy Đồ Thư mất vía mà tự sát. Thục Phán đã khẳng định ý thức tự cường tự chủ lập quốc của người Âu Việt Thái -Tày vẻ vang muôn thuở. Đèo Cát Hãn nói :

-Làm trai Thái không bằng Thục Phán thì đếch ra người !

Thế là chàng học theo Ngưu Hống tiếp tục một phen tranh giành quyền lực đất nước với người Kinh. Chàng tự xưng chúa động Ma Sa, xây dựng quân đội, sản xuất vũ khí tích trữ lương thảo, đi vận động các tù trưởng Thái Xá Lự Lào… cát cứ miền thượng lưu sông Mã Sông Đà Sông Thao, ngồi xem Lê Lợi và Vương Thông đánh nhau như hai con hổ một con chết một con què thì xuống núi thịt cả đôi. Do đó hai viên tướng gián điệp ngoại giao nhà Minh là Mã Kỳ và Sơn Thọ thân chinh đến gặp chúa động Ma Sa trao bằng sắc của vua Tuyên Đức và quà ngọc lụa, chàng nhận nhưng chẳng hành động gì, mà lặng im nuôi sức đợi thời. Chàng sang gặp chúa Ai Lao đề nghị liên minh thì lại thấy Mã Kỳ và Sơn Thọ trao bằng sắc của vua Tuyên Đức, quà ngọc lụa và đề nghị liên kết dẹp loạn Lam Sơn. Chờ cho Mã Kỳ Sơn Thọ xong cuộc du thuyết chàng vào cung bái yết thì chúa Ai Lao nói :

-Làm cây tre cong theo chiều gió thôi!…

-Bán anh em xa đổi lấy láng giềng gần. Ông về nói với minh chủ Lê Lợi cứ yên tâm đánh Hán. Ai Lao bằng mặt không bằng lòng với thằng nhãi con Tuyên Đức đâu.

Biết được bụng dạ chúa Ai Lao, Đèo Cát Hãn đến Bồn Man gặp tù trưởng Thái Cầm Quí đề nghị liên kết với động Ma Sa ngọa sơn xem hổ. Cầm Quí cắt tiết gà trống tơ hòa chén rượu uống thề với Đèo Cát Hãn tất cả vì Đại Thái trên hết.

Cuộc kháng chiến chống Minh 10 năm của khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi. Một con hổ chết. Một con không què mà thành mãnh hổ. Đèo Cát Hãn hoang mang một thời gian, nhưng nghe tin Lê Lợi giết 27 vị anh hùng công thần khai quốc như quan tư đồ tổng quản binh Trần Nguyên Hãn thì chàng phá cười lớn :

-Con hổ què thật rồi! Ha Ha!

Chàng ra lệnh cho các tù trưởng nậm Ma nậm Tà nậm Tao không cống nạp cho triều đình Lê Lợi. Chàng cử sứ giả sang Cao Bằng Thái Nguyên xin liên kết với cựu thần Lam Sơn là Bế Khắc Thiệu và tù trưởng Nông Đức Thái chống Triều đình Thăng Long kẻ chợ. Họp các tù trưởng tại động Ma Sa Đèo Cát Hãn nói :

-Nhà Minh không công nhận Lê Lợi là vua, đang thúc ép Lê Lợi lập vua họ Trần. Vua Chiêm và Ai Lao tăng cường quân lực đề phòng bành trướng của Lê Lợi vừa lập phủ Trấn Ninh. Lê Lợi cắt chân tay giết 27 vị anh hùng lập quốc và chu di tam tộc. Do đó công thần Bế Khắc Thiệu cũng đã cát cứ Việt Bắc cùng ta chống Triều đình. Bọn Trần Phong, Lương Nhữ Hốt tay sai Nhà Minh đang săn đón Tuyên Đức lập triều đình nhà Trần diệt Lê Lợi. Thăng Long đang rối ren cực độ. Thời cơ nghìn năm có một chúng ta phải tranh thủ luyện quân tập trung binh lực đánh xuống Thăng Long giải phóng Đế đô Cổ Loa Thái-Tày xưa, thiết lập nhà nước Đại Thái của chúng ta! Hãy tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!

Tai mắt của Tổng quản tuyên úy phiên trấn Đà Giang, Qui Hóa Sa Khả Tham, tay chân của quận công Sa Nam và bộ máy tình báo của Triều đình Lê Lợi đều biết âm mưu và hoạt động của các lực lượng chống đối trong và ngoài nước. Sau khi xử lý bọn Trần Phong Lương Nhữ Hốt, tháng 3-1431 Lê Lợi đích thân cầm quân đánh dẹp Bế Khắc Thiệu- Nông Đức Thái ở Cao Bằng Thái Nguyên. Nhà vua viết chiếu thông báo tội làm phản triều đình của họ và đề thơ khắc trên núi đá ở Nà Lự Cao Bằng:

Tháng 1-1432, Lê Lợi sai Tướng Lê Sát và Tư Tề đem quân đánh dẹp chúa động Ma Sa Đèo Cát Hãn. Mặc dù tuổi cao sức yếu, Lê Lợi cưỡi voi dẫn hậu quân lên châu Ninh Viễn tiếp ứng. Ba quân càn quét săn lùng bắt sạch các thủ lĩnh tù trưởng Tây Bắc phản quốc. Khi Lê Lợi tấn công động Ma Sa thì chúa động Đèo Cát Hãn trốn thoát . Lê Lợi đề thơ khắc núi Pú Huổi bản Tràng Xá Lay Tơ Mường Lay tả ngạn sông Đà ở Lai Châu :

Chiến thắng trở về Thăng Long đến Chợ Bờ, Lê Lợi lại khắc thơ trên núi Hào Trảng:

Năm 1435 Lê Lợi sai quân đánh dẹp tan bọn phản loạn Cầm Quí ở miền Tây Nghệ An. Tình hình biên cương Đại Việt được ổn định.

Lại nói chúa động Ma Sa Đèo Cát Hãn chạy trốn sang chúa Ai Lao cầu cứu. Chúa Ai Lao nói :

-Vận hội Đại Việt thắng Đại Hán Đại Minh đấy! Đại Thái không thể phát triển sang hướng Đông được. Trời giành cho Đại Thái ở hướng Tây Nam. Họ Đèo là con cháu Rồng Tiên cớ gì mà làm phản Lê Lợi? Thật đáng thương cho ông già cưỡi voi ngược nậm Ta dạy bảo nhà ngươi! Để chín châu mười mường quê hưong nhà ngươi được yên bình, nên noi theo Sa Khả Tham, Sa Nam, chớ theo vết xe đổ của Ngưu Hống. Nhà ngươi hãy xác định lại ý thức cộng đồng của mình thuộc về đâu? Đại Việt không còn đất cho ý thức Đại Thái nẩy mầm hiểu chứ? Đại Thái ở xứ nhà ngươi chỉ là một trong 100 họ làm nên Đại Việt mà thôi!

Nghe theo chúa Ai Lao, Đèo Cát Hãn trở về nước, đích thân xuống Kẻ Chợ vào chầu Lê Lợi xin tha tội chết. Lê Lợi nói :

-Đánh kẻ chạy đi không ai đánh kẻ chạy lại. Nhà ngươi hãy trở về quê thu hết văn bằng mua chuộc của thằng nhãi con Tuyên Đức nộp lên cho trẫm. Trẫm xóa bỏ quá khứ của nhà ngươi. Từ nay ngẩng cao đầu đi tới tương lai làm bầy tôi trung hiếu với minh quân vì dân vì nước.

Lò Cẩm Tú kể – Ghi ở Mường Lò 1980

Ngày ấy ở Phủ Tây An có cặp vợ chồng người Thái họ Đào sinh được hai người con trai khôi ngô tuấn tú đặt tên là Đào Quốc Kế và Đào Quốc Uy.

Người cha đã dạy hai con học văn võ song toàn. Hai con rất thích môn sử , nhất là sử Thái. Đêm đêm hai con nghe cha kể sử Thái tới canh khuya vẫn thích thú không thấy buồn ngủ.

Lúc bấy giờ phủ Tây An gồm sáu châu: Tùng Lăng , Hoàng Nham, Tuy Phụ, Kiêm, Hợp Phì, Lê Tuyến đã bị nhà Thanh xâm lược đã hai mươi năm. Hai con đề nghị cha kể kỹ về quê hương. Ông già e hèm nói :

Hai anh em đồng thanh nói :

– Nhà Mãn Thanh đã bị Hán hóa thành nòi Đại Hán tiếp tục xâm lược Đại Việt ta. Giá mà chúng con có phép thần thì ngay bây giờ đuổi chúng về bên kia sông Hoàng Hà giành lại quê xưa cho người Nam Man Miêu Dao và Bách Việt. Đại Việt ta thu về Vân Nam , Quí Châu và Lưỡng Quảng nguyên như Văn Lang 15 Bộ xưa. Hận Quang Trung được trả. Với phủ Tây An, cha cậy chúng con, để không phụ lòng cha, nhất định chúng con sẽ giành lại ! Chúng con hứa theo chân Đào Thế Quang vì nước, không bao giờ để tiếng xấu truyền lưu như Đào Quí Khách. Kính mong cha hãy yên tâm !

Từ hôm ấy hai anh em họ Đào nung nấu ý chí đánh đuổi nhà Thanh giải phóng quê hương. Hai chàng luyện tập các đường võ đao kiếm cưỡi ngựa bắn cung và học các mẹo dùng binh của tộc Thái về các cách đánh mai phục, đánh úp, đánh nghi binh, đánh gián điệp… Lớn lên hai anh em tổ chức dân binh Thái ở các mường. Nối tiếp truyền thống đánh quân ngàn xưa, hàng năm các mường đem dân binh đánh nhau vài ngày để luyện võ chờ thời cơ cứu nước cứu mường. Quan quân nhà Thanh kiểm soát ngăn cấm thì tạo các mường tấu :

-Đây là tập tục của Bách Việt tự thời Kinh Dương Vương không bỏ được đâu! Có dân binh có đánh nhau để luyện võ giữ mường đề phòng kẻ khác tìm mường ăn mường. Có đánh nhau thì các mường mới được Thần Linh phù hộ, làm ăn mới được mùa , mường bản mới bình yên.

Quan quân nhà Thanh phải chịu cái lý của người Thái.

Đến ngày trưởng thành, Đào Quốc Kế được dân Thái đen bàu là tạo mường Tum Hoàng, Đào Quốc Uy được dân Thái Trắng bàu là tạo mường Ôm . Thấy hai anh em họ Đào có chí khí, quan phủ nhà Thanh dụ dỗ mua chuộc, cho con trai con gái giao du kết bạn để làm gián điệp dò la. Nhà Thanh tiếp nối nhà Tống nhà Minh dùng thủ đoạn sắc phong chức tước và thưởng vàng bạc cho các tù trưởng biên giới Đại Việt để biến họ làm tay sai dẫn đường xâm lược. Quan phủ Hán trao sắc phong của vua Thanh cho anh em họ Đào chức tạo mường Ôm mường Tum Hoàng và còn đưa cho hai chàng 36 tờ sắc phong của vua Thanh để trống chưa ghi tên nhờ tiến cử các tạo mường để ghi tên vào. Cấp thẻ bài ra vào thành phủ cho hai tạo mường Ôm mường Tum Hoàng. Tương kế tựu kế, hai anh em chấp nhận để nắm bắt tin tức biết mình biết người. Xong bên lý có bên tình. Hai nương tử con quan phủ Hán đem lòng yêu hai anh em họ Đào. Hai anh em họ Đào có trái tim không phải bằng đá đã đáp lại tình yêu của họ. Nhưng quyết không để ái tình lấn át lý tưởng thầm kín. Nhân dịp tết nguyên tiêu năm ấy, quan quân nhà Thanh 6 châu lỵ và phủ Tây An ăn chơi rượu chè trai gái mê tơi, hai anh em đi vận động các tạo mường sáu châu cùng nổi trống đồng khởi nghĩa. Dân binh các mường trở thành nghĩa binh ào ạt tấn công các công sở đồn trại địch. Các tạo mường có sắc phong của vua Thanh có thẻ bài vào phủ châu lỵ, kén nghĩa binh võ giỏi giả vờ mang lễ vật lên mừng tết Nguyên Tiêu quan Hán chi châu vào thành làm nội ứng. Bị đánh úp bất ngờ, trong đánh ra ngoài đánh vào, quân quan nhà Thanh không kịp trở tay chết sạch sành sanh. Do quan hệ với hai con gái quan phủ Hán, và có sắc phong của vua Thanh, hai anh em ra vào phủ Tây An biết đường ngõ thành trì như thuộc lòng bàn tay, đã dẫn nghĩa binh mường Ôm mường Tum Hoàng giả vờ mừng tết rằm tháng giêng đã hạ thành Tây An nhanh gọn. Gia đình quan phủ Hán chống cự đều mất mạng sống. Nể tình xưa, hai anh em cho chôn cất họ tử tế. Chưa đầy một tuần, hai anh em họ Đào đã giải phóng phủ Tây An giành lại sáu châu cho Đại Nam nguyên vẹn như xưa.

Triều đình Huế cả mừng đã phong chức cho hai anh em Đào Quốc Kế và Đào Quốc Uy là trưởng phó tổng quản phủ Tây An tỉnh Hưng Hóa. Khi hai anh em về trời được Triều đình Nguyễn phong là Thần vệ quốc xây miếu thờ ở quê nhà.

Cầm Ngọc Tú kể- Ghi ở Mường Lò 1980.

Tây Sơn đuổi Nguyễn Ánh ra đảo Côn Lôn Phú Quốc. Nguyễn Ánh sang Băng Cốc gặp vua Xiêm xin giúp quân đội đánh Tây Sơn phục quốc.

Vua Xiêm cho họp viện cơ mật nói :

-Hoàng tộc của Trẫm nguồn gốc là Ngưu Hống ở Tây Bắc nước Đại Việt. Ngưu Hống dựng cờ Đại Thái ba lần đánh Đại Việt lập nước Thái ở phía đông không thành. Cụ tổ trẫm đã theo sông Mê Công xuống phía nam lập quốc Đại Thái Xiêm La mới thành công. Mối hận Ngưu Hống đến đời trẫm vẫn chưa nguôi. Nay Nguyễn Ánh vốn là người nhà bên ngoại của trẫm cầu cứu đánh ba anh em Tây Sơn. Trẫm nghĩ cơ hội để trả mối hận Ngưu Hống đã đến. Người Thái ra đi từ mường Then mường Ôm mường Tum Hoàng thành Cổ Loa đến Băng Cốc mới thành người Đại Thái hôm nay. Vương quốc Thái Xiêm La phải trở về giải phóng Đất Tổ của mình. Vương Quốc Đại Thái của trẫm phải đủ chín con sông: Mê Công, sông Mã, sông Đà, sông Hồng, sông Nậm Na, sông Nậm Nua, sông Nậm U, sông Lan Thương, sông Trường Giang. Nghĩa là chín con sông ấy chảy đến đâu thì lãnh thổ của vương quốc Xiêm La đến đấy. Tình hình hiện nay Nhà Thanh quản nước Trung Hoa đầy mầm loạn, đang lấn chiếm Bắc Hà của Đại Việt, tái lập vua Mạc lấy cớ xâm lược. Nhà nước Lê- Trịnh ở Bắc Hà thối nát. Vua Lê là bù nhìn. Chúa Trịnh nắm quyền cai trị, áp bức bóc lột, ăn chơi xa xỉ, trăm họ khổ sở ai oán. Nam Hà đang loạn Tây Sơn, Nhà Nguyễn thất thế, Nguyễn Ánh lưu vong cầu cứu trẫm, còn cầu cứu bọn áo dài đen giáo sỹ Tây Phương kiêm gián điệp và thương đội Pháp hòng cậy nhờ phục quốc. Nhưng nước xa không cứu được lửa gần. Nhân cơ hội nghìn năm có một này, trẫm giả vờ giúp Nguyễn Ánh một mặt đem đại binh thủy bộ chiếm Chân Lạp và Nam Ai Lao làm bàn đạp đánh Tây Sơn Nam Hà, tiến ra Bắc Hà diệt Lê -Trịnh, đuổi Nhà Thanh về bên kia sông Trường Giang giành lại 9 sông của Tổ tiên Đại Thái ta, một mặt trẫm giao nhiệm vụ cho viện cơ mật lập triều đình bù nhìn Đại Việt làm bình phong chính trị giúp quân đội Xiêm La đánh đâu thắng đó ! Trẫm chờ một ngày ngồi ngai vàng ở Đông Kinh và Nam Kinh !

Nói rồi, vua Xiêm cử hai tướng Thái: Lục Côn , Sa Uyển và các đại quan Thái: Thủy Biện nguyên cựu thần Chân Lạp cùng hai cháu là chiêu Tăng và chiêu Sương kéo hai vạn quân thủy và ba vạn quân bộ sang Nam Hà. Viện cơ mật Triều đình Băng Cốc lập Triều đình bù nhìn Đại Việt do Tôn Thất Xuân là vua cùng hai hàng văn võ người Nam Hà và Bắc Hà chạy nạn sang Xiêm La có hận thù với Lê- Trịnh, Nguyễn và Tây Sơn.

Nghe tin liên quân Xiêm La và Nguyễn Ánh đánh vào Gia định, Nguyễn Huệ tức tốc đem đại quân từ Phú Xuân vào Mỹ Tho mưu tính diệt quân Xiêm xâm lược. Nguyễn Huệ kết hợp chiến thuật ngoại giao , tình báo và quân sự để đánh bại quân Xiêm có quân hùng tướng mạnh thuyền chiến pháo, voi pháo hiện đại kiểu phương Tây và quân đông gấp nhiều lần quân Tây Sơn.

Trên mặt trận tình báo, Nguyễn Huệ biết được thông tin vua Xiêm lập Triều đình Đại Việt bù nhìn làm công cụ xâm lược, đã ra lệnh dùng kế mượn địch diệt địch. Cơ quan tình báo của Nguyễn Huệ biết Đỗ Thành Nhân là bạn chí cốt của vua bù nhìn Tôn Thất Xuân đã vận động Đỗ Thành Nhân viết một bức mật thư gửi Tôn Thất Xuân ở Băng Cốc hò hẹn làm nội ứng để đánh úp nước Xiêm La. Người mang mật thư đến Băng Cốc đã bị quân thị vệ của vua Xiêm bắt được. Xem thư, vua Xiêm nổi giận lôi đình đã sai Bộ Hình chém đầu vua Tôn Thất Xuân và Triều đình bù nhìn Đại Việt.

Vừa tắm máu bọn tay sai âm mưu xâm lược xong thì vua Xiêm nhận được tin Thủy Quân Xiêm bị mắc lừa kế “giảng hòa” của Nguyễn Huệ đã sa bẫy ở Giạch Gầm – Soài Mút chết sạch không còn một mống. Thế là vua Xiêm ngất sỉu, hôn mê mấy ngày mới tỉnh. Vua Xiêm mới chợt nhận ra vấn đề thều thào nói:

-Trẫm thật thà quá! Trẫm đã mắc mẹo lừa của Tây Sơn cả về chính trị và quân sự rồi! Ai lại như trẫm tự chặt tay chân của mình bao giờ? Ôi thôi! Chưa biết đến bao giờ mới trả được nỗi hận Ngưu Hống nghìn xưa?

Cầm Ngọc Tú kể- Ghi ở Mường Lò 1980

Cầm Hánh đánh giặc Cờ Vàng

Ngày ấy, ở Mư­ờng Lò châu Qui Hóa nay là thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái, nhà họ Cầm ngư­ời Thái Đen sinh đư­ợc cậu bé tai to mặt vuông chữ điền mắt sáng vẻ lanh lợi đặt tên là Cầm Hánh.

Ai cũng đòi bế cậu bé thơm cái chim bằng quả ớt và nói nựng. Người thì gọi cậu là là ông Quảng Đức lớn lên là ngư­ời có đạo đức. Người thì gọi là ông Quảng Nghĩa mai sau là ngư­ời sống có tình có nghĩa. Ngư­ời thì gọi là ông Quảng Th­ượng tin rằng cậu bé thành ng­ười cao th­ượng. Ngư­ời thì gọi là ông Quảng Thống sẽ là ngư­ời thông thái hiểu biết rộng. Ng­ười thì gọi là ông Quảng Thạo hy vọng cậu bé thành ng­ười làm tạo mư­ờng biết tổ chức xếp đặt mọi công việc của làng bản. Ng­ười thì gọi là ông Quảng Tâm ( giầu tình cảm tâm huyết biết đoàn kết mọi ngư­ời), Quảng Minh (thông minh sáng suốt tỉ mỉ), Quảng Công (có nhiều công lao với mư­ờng bản)… Năm lên bảy cậu học chữ Thái, thích đọc sử Thái, mê chuyện Lò Lạng Chư­ợng tìm mư­ờng ăn mư­ờng , chơi trò xây thành dựng lũy, bắn cung tên, rủ bạn đánh trận giả. Lớn lên thích tham gia hội Lồng Tồng đua ngựa bắn cung đấu kiếm. Mùa hội nào cũng tranh giải nhất. Và ­ưa giao du bạn bè thư­ợng võ Thái.

Năm 1870 giặc phỉ Tàu Hán Thanh Hoàng Sùng Anh cầm đầu phất cờ vàng làm t­ướng cư­ớp ở Hoa Nam bị Nhà Thanh đánh dẹp đã chạy sang Đại Nam nh­ư kiến cỏ. Lịch sử gọi là giặc Cờ Vàng. Đi đến đâu chúng đốt c­ướp giết hiếp đến đấy. Trung du và th­ượng du Bắc Kỳ chìm ngập khói lửa. Triều đình Huế cử Hoàng Kế Viêm làm Tổng thống quân vụ Bắc Kỳ lo việc dẹp giặc Cờ Vàng. Lúc bấy giờ Quân Cờ Đen Thái Bình Thiên Quốc do Lư­u Vĩnh Phúc cầm đầu bị Nhà Thanh đàn áp cũng di tản sang Đại Nam đ­ược Triều đình Huế cho c­ư trú. Hoàng Kế Viêm đã mư­ợn Quân Cờ Đen Lư­u Vĩnh Phúc cùng đánh quân Cờ Vàng và chuẩn bị đánh Tây ra Bắc Kỳ. Quân Cờ Vàng thua to chạy lên Tây Bắc. Một vạn quân Cờ Vàng từ Âu Lâu Bách Lẫm theo đư­ờng ngòi Lâu qua Ba Khe Đèo Á ch đã tràn vào M­ường Lò c­ướp bóc. Ngư­ời có tiền đư­a ngay chúng tha, ngư­ời không tiền chúng giết tại chỗ, dân sống như­ nai như­ hoẵng, như­ cáo như­ chồn chui rúc rừng sâu…

H­ưởng ứng lời kêu gọi của Tổng thống quân vụ Bắc Kỳ Hoàng Kế Viêm và căm thù giặc Cờ Vàng tàn phá Mư­ờng Lò, Cầm Hánh tập họp anh em gia đình họ Cầm, bạn bè th­ượng võ gần xa và nhân dân Mư­ờng Lò phất cờ Đại Nam đánh giặc Cờ Vàng cứu M­ường cứu n­ước. Chỉ trong một ngày nghĩa quân đã có vạn ngư­ời tham gia. Cầm Hánh cử ra bốn tướng chỉ huy bốn đơn vị chiến đấu đều là ngư­ời anh em một nhà một họ: Cầm Chiêu, Cầm Tú, Cầm Hiệp, Cầm Tám. Cầm Hánh tổ chức nhân dân các tộc ngư­ời Thái Mư­ờng Khơ Mú Kinh Keo Tày Dao Mông trong vùng đào đắp xây dựng thành lũy Viềng Công ở xã Hạnh Sơn ngày nay vẫn còn những cụm tre hóa dào ngoài thành gọi là tre thiêng. Từ thành lũy Chiềng Công, ngày đêm nghĩa quân xuất phát đi đánh tập kích , đánh mai phục tiêu diệt sinh lực quân Cờ Vàng. Lợi dụng trời nắng hanh, đêm khuya khi giặc ngủ nh­ư chết trong lều trại ở đồng Mư­ờng Lò, Nghĩa quân bao vây bắn mũi tên nỏ có bùi nhùi lửa thiêu hủy cháy ra tro. Giặc hoảng loạn , nghĩa quân xung phong kẻ g­ươm chém, ngư­ời giáo đâm, giặc chết nh­ư ngả rạ. Một trận tập kích diệt gọn ba nghìn tên. Giặc vào các bản cướp bóc. Nghĩa quân mai phục đón lõng , hai bên sư­ờn núi bắn tên nỏ xuống như­ mư­a, đứa chết đứa bị th­ương la liệt. T­ướng Cờ Vàng là Hoàng Sùng Inh em trai Hoàng Sùng Anh sai quân báo dò xét căn cứ Chiềng Công. Sùng Inh tập trung quân lực bất ngờ kéo đến hạ thành lũy Chiềng Công. Trên đ­ường vào qua ổ mai phục bị đá lăn xuống và trúng mũi tên độc chết không kể xiết. Nghĩa quân bắn hết tên và đá lăn không còn phải rút lui. Quân chi viện xông vào đến lũy tre thiêng, đứa thì sa hầm chông, đứa thì bị mũi tên và cây lao trong hào lũy phóng ra ngã lăn đùng. Giặc không có vũ khí phá lũy tre thiêng, không hạ đ­ược thành buộc phải rút lui. Hoàng Sùng Inh phải cho ng­ười ra đồn Tuần Quán Bách Lẫm xin viện binh. Hoàng Sùng Anh đích thân chỉ huy ba vạn quân có súng phóng hỏa kéo vào Hạnh Sơn bao vây Chiềng Công. Súng phóng hỏa giặc đốt cháy tre thiêng mở lối vào. Giặc tràn lên như­ lũ quét. Trên thành nghĩa quân bắn mũi tên xuống như­ mư­a, bắn súng hỏa mai đì đùng tóe lửa, giặc chết hết lớp này thì lớp khác lại xông lên. Tiền súng phóng hỏa, hậu xung kích bắc thang leo vào thành. Thế giặc quá mạnh, nghĩa quân hy sinh quá nhiều. Cầm Hiệp Cầm Tú tử trận. Cầm Hánh, Cầm Chiêu , Cầm Tám dẫn số nghĩa quân còn lại theo cửa hậu rút ra khỏi thành vào một cánh rừng thì quân báo cho biết địch đã phong tỏa. Cầm Hánh tập họp Nghĩa quân nói :

-Chiềng Công thất thủ rồi! Chúng ta đang bị bao vây. Cơ trời không thuộc về chúng ta. Như­ng chúng ta không thể cùng nhau chết cả ở đây. Ta có bạn thân là TriệuTuấn thủ lĩnh ng­ười Dao ở Nậm Mư­ời, Đặng Hưng tù trư­ởng ng­ười Dao ở Suối Quyền. Vậy các chiến huynh chiến hữu chia nhỏ từng nhóm ba ng­ười, đóng vai thợ rừng không nói tiếng Thái mà nói tiếng Tày Nùng tiếng Dao Mông ngày nghỉ đêm đi đến Nậm M­ười, Suối Quyền bảo rằng Cầm Hánh gửi làm con nuôi chờ thời cơ diệt giặc Hoàng Sùng Anh báo thù cho đồng đội!

Mọi ng­ười quấn quít nư­ớc mắt như­ m­ưa muốn ở lại cùng chết với Chủ Tư­ớng . Cầm Hánh gạt nư­ớc mắt giục :

-Đó là mệnh lệnh của ta, đi đi thôi!

Họ buộc phải nghe theo. Tản ra bốn phía. Chia tay chiến hữu xong, ba anh em Cầm Hánh tuẫn tiết. Mấy giờ sau giặc càn tới chỉ còn thấy ba đống mối bên gốc cây chò cao vút từng mây.

Để noi gư­ơng ng­ười anh hùng Cầm Hánh đánh giặc giữ m­ường hy sinh vì n­ước vì dân, ngư­ời Thái Đen Mư­ờng Lò tôn vinh là Thành Hoàng lập đền thờ ở thị xã Nghĩa Lộ 95 năm không ngớt khói hư­ơng. 1965 Đền Thờ Cẩm Hánh bị dỡ bỏ chư­a biết trách nhiệm thuộc về ai? Nh­ưng sách Thái cổ : “Cầm Hánh tạp Sấc Khư­ơng” ( Cầm Hánh đánh giặc Cờ Vàng) vẫn còn sao chép truyền lư­u mãi mãi. Ngư­ời Thái M­ường Lò với ngư­ời Dao Nậm M­ười, Suối Quyền đi nư­ớc nghĩa cưu mang nhau từ ấy đến nay.

Ngày ấy ở mường Then có một thầy đồ dạy chữ Thái sinh được hai người con trai. Người vợ mất sớm, thầy đồ gà trống nuôi con. Khi hai con đã mười bảy mười tám tuổi, thầy đồ ra đi gọi hai con đến bên giường dặn dò:

-Trên án thư có quyển sách Thái cổ và nghiên bút cha để lại cho hai con…

Nói chưa hết câu thì thầy đồ tắt thở. Hai anh em khóc chu lên:

-Cha ơi ! Cha vội về Then chưa chờ đặt tên cháu cha ơi!

Hai con chôn cất cha mồ yên mả đẹp rồi mỗi người một phương tìm mường làm ăn sinh sống.

Người anh cầm quyển sách Thái cổ đến mường Tè bán cho một thầy đồ trẻ dạy học lấy vài xu. Người anh phá hoang trồng trọt chăn nuôi, lấy vợ sinh con, gia đình khá giả. Người ta hỏi thăm quê quán cha mẹ gia đình xuất thân thì người anh đáp :

-Quê tôi ở mường Tum Hoàng. Cha làm tạo, mẹ dệt thổ cẩm.

Người anh không muốn lộ tung tích cha làm thầy đồ, mồ côi mẹ, gia cảnh nghèo hèn của mình vì cảm thấy khổ nhục.

Người em đến mường Lò đi ở chăn trâu kiếm miếng ăn. Chàng luôn luôn mang theo trên người cái túi nghiên bút của cha để lại không bao giờ dời xa một li. Người ta tưởng chàng có học, ai cũng nhờ viết thư tỏ tình, làm đơn từ kiện cáo và văn tự cầm đồ bán ruộng. Chàng thật thà nói :

-Cha tôi là thầy đồ dạy chữ Thái, mẹ tôi mất sớm, anh em tôi thất học mù chữ. Khi cha ra đi chỉ để lại cho anh em tôi một quyển sách cổ Thái và nghiên bút. Anh tôi cầm quyển sách cổ Thái đem bán, chê nghiên bút không lấy. Tôi mang theo kỷ vật này của cha như thấy tình cha con chẳng bao giờ phai mờ.

-Mù chữ mang nghiên bút. Đúng là thằng hâm điên rồi!

Một hôm người em đang chăn trâu trong rừng thì một con khỉ mẹ đến gần mếu máo nói tiếng người :

-Con tôi đã chết! Chàng làm phúc hơn làm giầu cho tôi mượn nghiên bút cứu nó sống lại!

Chàng rất ngạc nhiên theo khỉ mẹ vào hang đá. Một chú khỉ con chết cứng đờ, lông dựng cả lên, thân lạnh toát. Chàng lấy nghiên ra mài mực, cầm bút lông chấm vào thì tự nhiên tay chàng chẳng khác tay cha xưa múa bút viết chữ dạy học trò. Một dòng chữ hiện lên trên thân con khỉ đã chết : “Cải tử hoàn sinh”. Vậy là chú khỉ con từ từ cái lông mềm mượt , đôi mắt mở ra, gò má hồng hào. Nó ngồi dậy ôm lấy mẹ khỉ rúc đầu vào hai bầu vú bú tí. Bốn chữ trên thân chú khỉ cũng biến mất.

Một hôm khác, trên đường lùa trâu đi chàng gặp một cụ già còng rạp mặt đất, gùi một lù cở bắp càng thêm còng, chân đi bậm bạch, chậm hơn vịt. Tự nhiên chàng động lòng thương, lại mở túi lấy nghiên bút ra thử. Chàng múa ngọn bút trên lưng cụ già hiện lên bốn chữ : “Cải lão hoàn đồng” Tức thì cụ già từ từ đứng ngay người lên đi nhanh thuăn thoắt dáng vẻ như một chàng trai mới lớn. Cụ về nhà sàn khiến cả nhà há mồm trợn mắt, ai cũng nói :

-Cậu kia nhầm nhà rồi về đi!

-Không! Ông đây mà! Chính ông đấy ! Ông vừa được người chăn trâu cải lão hoàn đồng cho, các con các cháu à !

Cả nhà nhìn kỹ thì nhận ra đôi mắt chính là ông mình, cái lù cở buộc dây của nhà mình. Đàn chó không sủa mà cuốn quýt bên chân người thanh thiếu niên vốn là cụ chủ.

Từ ấy chàng chăn trâu, thôi đi ở làm thuê, mà dùng nghiên bút thần cứu nhân độ thế, giải thoát nhiều người vật khỏi cái lão bệnh tử, được người đời đền ơn trọng vọng, trở thành giầu sang phú quí. Nhưng chàng không muốn hưởng mà đem của cải phân phát cho người nghèo khổ. Chàng sống đạm bạc đủ ăn đủ tiêu.

Mường Lò một độ có giặc cờ vàng tràn đến đốt cướp giết hiếp dã man tàn bạo lửa khói ngút trời, máu chảy đỏ nậm Thia.

Cầm Hánh cùng các chiến hữu Cầm Chiêu, Cầm Hiệp, Cầm Tú, Cầm Tám lãnh đạo quân dân Mường Lò xây dựng chiến lũy Chiềng Công đánh lui nhiều đợt tấn công của quân cờ vàng giết hàng vạn giặc.Thủ lĩnh Quân cờ vàng là Hoàng Sùng Anh điều hành ba vạn quân chi viện vây chặt. Thế giặc mạnh, thành Chiềng Công thất thủ. Cầm Hánh và các chiến hữu người tử trận người tuẫn tiét. Trước lúc Cầm Hánh về Mường Trời đã dặn binh sỹ của ông lên Suối Quyền , Nậm Mười làm con nuôi của người Dao để tránh sự trả thù của giặc. Chiếm được Mường Lò giặc cờ vàng ăn chơi phè phỡn.

Để trả thù cho nghĩa quân Cầm Hánh, từ Mường Than xuống,chàng chăn trâu mài nghiên chấm mực múa bút viết lên trời mường Lò hai chữ : ” Giặc tan!”. Thế là giặc Cờ Vàng sinh chứng đau bụng quằn quại chết một loạt không còn một mống.

Đất nước trở lại thanh bình. Nhân dân mường Lò đi tìm người có nghiên bút thần đánh giặc Cờ Vàng thì không thấy đâu. Người thì bảo người anh hùng ấy không thích công huân, mai danh ẩn tích trên núi Pú Chạng, trên núi Suối Giàng. Kẻ thì bảo là người Then dẹp xong giặc về Then rồi! Những người tin chuyện nghiên bút thần có thật thì lo nghiệp nghiên bút, tầm sư học đạo, trở thành nhân tài phò dân giúp nước.

Lại nói người thầy đồ trẻ ở mường Tè mua được quyển sách Thái cổ giá rẻ ba xu của người anh thì vui như mở cờ trong bụng. Thầy đồ trẻ xem xong cuốn sách reo lên một mình :

-Hạnh phúc của đời ta là đây! Quyển sách giá ngàn vàng cũng không mua được. Trời ơi! Sách là cẩm nang bách khoa toàn thư của người Thái đã mấy nghìn năm lịch sử có giá trị như cơm gạo ăn không bao giờ cũ mà mới mãi tinh khôi. Sao lại có cái thằng ngốc ở trên đời bán cho ta với giá ba xu? Không phải! Đây là của báu Then cho ta! Ha ha ha !…

Thầy đồ trẻ mường Tè dùng sách đó giảng dạy cho học trò biết nền văn minh Thái, biết lập mường đặt tạo, biết làm ăn giầu có, biết sống có văn hóa Thái, trở thành nhân tài phò dân giúp nước, khai sáng các mường. Học trò của thầy đồ mường Tè từ khắp đất nước kéo về trường xưa tôn thầy lên làm vua xứ Thái hưởng vinh hoa phú quí khiến người anh tiếc ngẩn tiếc ngơ.

Lò Cẩm Tú kể- Ghi ở mường Lò 1980.

Ngày ấy ở mường kia có hai anh em mồ côi ở với nhau. Người anh lấy vợ sinh lòng tham chiếm hết gia tài. Không chia cho người em động sản và bất động sản gì. Người em vào rừng lang thang đào củ mài kiếm sống.

Người em nghĩ thầm : “Họ nhà khỉ tốt bụng với nhau quá, biết tìm cây thuốc cải tử hoàn sinh cứu nhau vô tư hơn cả người.” Người em tìm đến cây thuốc nhận mặt rồi vái lạy nín thở khấn thầm : “Tôi là người mồ côi không nơi nương tựa. Tôi xin cây chủ cho một ít lá hoa quả làm thuốc phòng thân . Nếu được thì xin cây chủ nói “ừ”. Nếu nói “không” thì tôi thôi!” Bỗng cây thuốc nói một tiếng : “ừ”. Người em hái vài lá hoa quả mang về hang trú phơi khô gói trong lá chuối cho vào túi đèo bên người.

Một hôm gánh củ mài xuống chợ bán thì gặp một người mắc chứng cảm phong đột tử bên đường. Chàng lấy nắm lá hoa quả thuốc khô ra nhai mớm vào miệng tử thi. Một lúc sau người chết sống lại vái lạy cảm ơn chàng rối rít, rồi mời chàng vào quán ăn đãi một bữa cơm ngon mà chàng chưa bao giờ được ăn. Người được cứu sống nói :

-Từ nay chàng là ân nhân của tôi! Tôi xin làm con cải tử hoàn sinh của chàng! Chàng có thể cho con biết ân nhân của con sống ra sao?

Chàng kể lại hoàn cảnh mồ côi của mình, lấy hang đá làm nhà ở , rừng làm vườn ruộng kiếm ăn. Người được cứu sống rất cảm kích liền vái lạy xin ân nhân về nhà mình ở hành nghề chữa bệnh cứu dân.

Từ ấy chàng trở thành một thầy thuốc nổi tiếng trong vùng. Hễ ai tai nạn , bệnh tật, ốm đau hoặc đã tử vong đều được chàng tận tâm cứu chữa bằng thuốc lá xanh hoa trắng quả bạch phơi khô sắc uống. Mỗi lần cứu được một người, chàng lại vào rừng tìm cây thuốc làm lễ tạ ơn. Chàng tự nhủ : “Nếu ăn cháo đá bát , ngồi mát bóng cây mà bẻ cành, thì cây cho thuốc sẽ không hiệu nghiệm nữa.” Do đó chàng chữa người nào khỏi người ấy kể cả những con vật tai nạn ốm đau, chết cũng vậy.

Một ngày có một ông vua cho quan hoàng môn đón chàng vào cung nói :

-Trẫm nghe tin khanh là một Thần Y. Trẫm mến mộ khanh cho mời vào cung phong chức Thái Y của triều đình. Trẫm có một công chúa hồng nhan bạc mệnh 16 tuổi về âm ti. Trẫm mong quan Thái Y cứu sống lại, trẫm sẽ chia cho nửa nước, nếu thích trẫm gả công chúa cho làm vợ và khi trẫm về Then sẽ truyền ngôi báu cho khanh!

Chàng vái lạy nhà vua nói :

-Bầy tôi xin đa tạ ! Bầy tôi chỉ xin được chữa cho công chúa sống lại trở về với vua cha sống tiếp cho trọn hiếu một trăm năm. Còn chức Thái Y của triều đình bầy tôi không dám nhận, chỉ xin bệ hạ cho phép chữa bệnh cứu người cứu vật. Còn khi bệ hạ và triều đình cần đến thì bầy tôi sẽ có mặt ngay!

-Thôi được! Cứ tạm chấp nhận như thế đã!

Chàng làm lễ cúng thần linh và vong hồn công chúa rồi cho khai quật mộ lấy hài cốt rửa sạch bằng nước rượu phơi khô rồi xếp lại đầu mình tứ chi hình người, lấy lá hoa quả cây thuốc rắc lên, đắp chăn hoa ủ. Sau chín ngày, thì nàng công chúa 16 xuân xanh tung chăn ngồi dậy trước phụ vương và hoàng tộc trong niềm vui tái sinh vô hạn. Nàng đứng dậy vái lạy ôm lấy từng người như vừa đi xa về. Ai nấy ứa nước mắt mừng rơi như mưa. Trong khi ấy chàng rút lui xuống mường cứu bệnh cho dân.

Hôm sau nhà vua mở hội mừng công chúa tái sinh, cho quan hoàng môn đi tìm đón chàng về cung dự tiệc, được công chúa chúc rượu tạ ơn ân nhân và xin được làm vợ giúp chàng hành nghiệp Y cứu người cứu vật. Công chúa quả là một nàng tiên phúc hậu không thể từ chối được, chàng đã đáp tình.

Từ ấy chàng có nửa giang sơn và được công chúa hết lòng chăm sóc đã mở mang sự nghiệp y học phát triển rực rỡ. Trường học đào tạo thầy thuốc mở ra, thành lập các vườn trồng cây dược liệu, các xưởng bào chế thuốc, mở các bệnh viện chăm lo sức khỏe cho con người con vật khắp cả nước.

Chàng trở nên giầu sang phú quí nhưng không xa dân.

Lại nói vợ chồng người anh tham lam chẳng khá lên được. Thấy người em vinh gia hiển quốc tìm đến chơi cầu cạnh. Vợ chồng người em coi là thượng khách mời tiệc yến, biếu nhiều vàng bạc thuốc men quí giá, thừa sống sung sướng hết đời. Nhưng lòng tham vô đáy cứ năn nỉ người em cho biết bí quyết làm giàu. Người em đành kể lại đầu đuôi câu chuyện đời mình. Nghe xong vợ chồng người anh dọn nhà vào hang trong rừng tìm cây thuốc lá xanh hoa trắng quả bạch để hành nghề. Do nóng vội ham của nên quên hết đạo lý giữa người với vật, đè vào chặt cây thuốc cả gốc, nhổ cả rễ, mang về phơi khô chất thành đống, rồi gói đem ra chợ bán. Rừng hết cây thuốc rồi, vợ chồng người anh đêm đêm vào vườn dược liệu của người em nhổ trộm hết sạch cây lá xanh hoa trắng quả bạch để bán tiếp . Người bệnh mua về sắc uống, chẳng ai khỏi, tiền mất tật mamg. Vợ chồng người anh dùng thuốc cứu người mới chết và chết lâu năm cũng không sống lại. Người vật đều nguyền rủa là lang băm lừa đảo. Trong rừng có một con cọp, không còn cây thuốc cứu con của nó khi mắc bệnh, đã rình vồ cắn chết hai vợ chồng người anh, xé xác ra trăm mảnh.

Do vợ chồng người anh đào tận gốc trốc tận rễ nên cây thuốc lá xanh hoa trắng quả bạch hoàn sinh đến nay không còn nữa.

Cầm Vân kể- Ghi ở Trường TNDT Lũng Mu-Mường Lò 1980

Ngày ấy ở mường Ôm mường Ai có một người đàn ông vợ chết thành gà trống nuôi một con trai. Chẳng bao lâu rổ rá cạp lại với một người đàn bà kế có một con riêng. Thế là gia đình ông ta có con anh con tôi chung một nhà.

Thói đời có kẻ ác người thiện. Chẳng may cho ông ta lấy phải bà vợ kế là kẻ ác. Bà vợ kế coi con riêng của chồng là cái gai trong mắt chỉ muốn nhổ đi. Con riêng của bà ta thì được ăn mặc tử tế quần áo mới, con riêng của chồng thì ăn mặc rách rưới. Đến bữa ăn xơi cơm cho con mình một bát đầy thì xơi cơm cho con chồng non nửa bát vơi. Gắp cho con mình miếng nạc gắp cho con chồng miếng xương. Con mình được cắp sách đến trường, con chồng đi chăn trâu.

Ông chồng thường đi buôn muối vắng nhà không biết đấy là đâu, khi về nhà thấy con mình gầy gò xanh xao rách rưới thất học, con riêng của vợ béo tốt, lành lặn, học hành, mới hiểu hết mọi nhẽ, vẻ không bằng lòng, thì bà vợ kế nói :

-Con anh khó dạy lắm, cho học không học, cho mặc lành được hai ngày thì đùa nghịch rách bươm, biếng ăn ham chơi người gầy đen như quỉ đói. Anh ở nhà mà nuôi dạy lấy cho nó tốt đẹp !

Ông chồng đau buồn rồi giải sầu bằng rượu đột quị chết. Đứa con riêng hoàn toàn phụ thuộc người dì ghẻ bất lương.

Hồi ấy, con rể Then là Tum Hoàng làm tạo mường Ôm mường Ai không biết nói gì để Then giận cấm mưa, đồng ruộng hạn hán mấy năm liền, người ta ăn hết sạch 330 loại lúa giống, chỉ còn ăn hương ăn hoa ngửi mùi cơm ảo giác mà thôi. Tum Hoàng và Tạo Ngần Tạo Xuông phải bỏ đi mường Bo Té mường Lò.

Người dì ghẻ dẫn con chồng đến cửa hang núi đá bảo :

-Con nhỏ người chui vào trong tận cùng hang mở hũ vàng lấy về để mẹ mua gạo ăn và áo đẹp cho.

Người con chồng vừa chui vào thì dì ghẻ vần đá to lấp cửa hang, rồi phóng một mạch về nhà. Dì ghẻ cười thầm nói một mình : ” Từ nay ta hết tức mắt, cái gai nhổ vứt đi rồi!”.

Cậu bé chui vào hang càng vào sâu càng to rộng dần. Cậu đứng dậy đi thoải mái, chẳng thấy hũ vàng nào cả, cậu quay về để bảo mẹ kế là không có thì cửa hang đá chèn không đẩy ra được, mới chợt hiểu ra mẹ ghẻ hại mình. Cậu hận khóc gọi “Mẹ ơi có linh thiêng cứu con với!” Một hồi lâu chẳng thấy mẹ chỉ thấy một con thằn lằn quấn quít bên chân rồi bò vào hang sâu vẻ như người dẫn đường Cậu cho rằng linh hồn mẹ nhập vào con thằn lằn này chăng? Cậu liền theo nó quay lại hang đi tiếp. Đi mãi đi mãi, mỏi nhừ chân, đói mệt, ngồi nghỉ, ngủ một giấc, tỉnh dậy lại thấy thằn lằn dẫn đi. Cậu đi qua quãng tối lại đến quãng lờ mờ sáng, rồi lại tối rồi lại sáng. Sau này cậu mới biết mình đã đi qua nhiều ngày đêm. Cuối cùng đến quãng sáng hơn dần và ra cửa hang chẳng thấy thằn lằn đâu, chỉ thấy một vùng trời xanh bao la, đồng trắng, đồng xanh, đồng vàng như thảm lụa mênh mông. Nơi đồng trắng chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa. Nơi đồng xanh người ta đang làm cỏ bón phân. Nơi đồng vàng người ta đang gặt hái. Họ vừa làm vừa ca hát véo von như chim đua hót. Cậu đói xin vài hạt lúa bóc lấy gạo ăn sống thấy vị bùi ngọt thơm lạ thường. Cậu thấy khỏe hẳn ra và người lớn lên, bắp chân bắp tay như chàng thanh niên. Cậu soi người qua vũng nước như gương thấy mình là một trang nam nhi khôi ngô tuấn tú.

Đi hết cánh đồng thì đến làng cửa nhà to rộng giữa vườn xanh đầy hoa trái chĩu cành. Sân rộng mênh mông phơi thóc vàng. Chàng được mời vào nhà và đãi một bữa cơm có xôi gạo nếp thơm ngào ngạt, ăn vào ngon ơi là ngon. Chủ nhà hỏi:

-Cậu từ đâu đến không phải người Then?

-Tôi từ trần gian tới. Đây là mường Trời ư ?

-Phải! Trời đất đã xa nhau từ lâu. Cầu thang đã chặt bỏ. Cậu lên bằng đường nào ?

Chàng kể lại trần gian hạn hán đói khổ, cơm gạo không có ăn, mẹ ghẻ bỏ chàng vào hang đá cho chết mà ngờ chuột sa chĩnh gạo. Người Then cười :

-Gặp rủi hóa may là thế! Nhưng Then cấm người trần lên trời, cậu phải về thôi, không thì bị Thiên Lôi cho một nhát búa sét.

-Tôi là con cháu Tum Hoàng con rể Then cũng bị giết ư ?

-Giết chứ! Then đã giết đi giết lại mấy kiếp người vật trần gian bằng cách mở bảy đường nắng, đóng chín đường mưa còn gì. Giờ đây Then bắt hạ giới chết đói vì hạn hán mà cậu vừa kể đấy!

-Đường hang bị bịt cửa, tôi không về được!

– Yên tâm người Then sẽ giúp.

-Trần gian đói ăn hết 330 giống lúa Then cho rồi. Vậy xin ông chủ Trời cho tôi tham quan cách làm ăn của mường Trời và cho một ít hạt lúa nếp lúa tẻ về hạ giới làm giống !

– Tham quan thì được! Lúa giống thì không cho được đâu! Then bắt được giết cả nhà đấy.

Nói rồi chủ nhà dẫn chàng đi xem tam đồng trắng xanh vàng, các hệ thống mương phai cọn nước dẫn thủy nhập điền, các xưởng nông cụ, các nhà kho, nhà chế biến lương thực, cối chày giã gạo bằng sức nước, nhà bếp, rồi tiễn chàng đi qua sân lúa vàng đang phơi ra cổng bản, gọi chim phượng hoàng cõng chàng xuống trần gian.

Trên đường bay chàng kể đời mình cho chim phượng hoàng nghe. Phượng hoàng thương chàng không đưa xuống mường Ôm mường Ai tránh dì ghẻ ác mà xuống mường Thanh. Chim phượng hoàng nhổ một cái lông sắc như dao tặng chàng làm vật lưu niệm, rồi chia tay chàng trên cánh đồng hoang.

Chàng dùng lông chim phát cỏ chặt cây dựng lều ở tạm. Chàng cởi quần áo để giặt thì thấy gấu quần rách vương theo ba hạt lúa nương lúa nước tẻ và nếp từ sân mường Trời. Chàng mừng quá reo lên :

-Người có phúc trời nắm phần đây rồi!

Chàng liền phát cây đốt ra tro rồi gieo hạt lúa nương. Làm cỏ sục bùn gieo hạt lúa ruộng. Ngày nào chàng cũng chăm sóc đủ nước , bón phân tro, làm cỏ, bắt sâu.

Ba tháng qua. Ba cây mạ sinh trưởng thành ba bụi lúa bông vàng chĩu hạt nức hương thơm không kém gì lúa trên mường Trời. Lúa chín chàng vò ra được ba bát lúa giống tẻ nương tẻ ruộng và nếp ruộng hạt mẩy căng tròn.

Từ đó chàng cấy trồng khắp cánh đồng mường Thanh, mùa gặt thu về cơ man nào là lúa gạo. Có lúa gạo chàng đổi được trâu bò dê ngựa, nhà cao cửa rộng, nhà kho, chuồng trại, lấy được vợ và thuê được người làm, lập được bản, tổ chức được quân đội giữ mường. Then cấm mưa, học theo mường Trời, chàng cho đào mương phai và làm cọn nước dẫn nước suối vào ruộng lên nương.

Ruộng nương của chàng năm nào cũng được mùa to. Nhà kho cứ xây thêm mãi. Nhớ lại những ngày ở mường Trời chàng học được cách làm cối xay cối giã bằng sức nước chảy máng ồ rơi chày thịch gạo trắng như ngọc thơm lừng. Bữa được ăn xôi nếp ở nhà chủ mường Trời chàng học được cách làm chõ gỗ xôi gạo nếp chín bằng hơi, còn lưu trong các bếp người Thái đến ngày nay.

Khắp nơi khắp vùng chín con sông cho ngựa về mường Thanh mua lúa giống của chàng khôi phục nghề trồng lúa. Mẹ con người dì ghẻ ác cũng về mua lúa giống không nhận ra được chàng, nhưng chàng không muốn lấy oán trả oán mà bán cho họ một biếu họ mười. Mẹ con mụ dì ghẻ cảm ơn chàng rối rít. Nhờ có lúa giống của chàng nên mường Ôm mường Ai được mùa liên tiếp, không còn phải ngửi mùi cơm nữa, mà cơm ăn ba bốn năm bát xơi đầy thơm phức nếp hương. Tạo Tum Hoàng tạo Xuông đang ở mường Lò vội vàng quay về mường Ôm mường Ai.

Đồng bào cả nước phong chàng là vua lúa của thời đại Tum Hoàng. Do mường Thanh cấy giống lúa mang từ mường Trời về nên đổi là mường Then.

Lại nói mẹ con dì ghẻ mang lúa giống về mường Ôm trồng cấy trên nương dưới ruộng tươi tốt. Đàn trâu rừng đi qua hỏi nhau:

-Giống lúa ở đâu mà tốt thế?

-Giống lúa của người con chồng ở mường Thanh mang từ mường Trời về đấy!

– Ruộng nương này của ai ?

-Của mụ dì ghẻ lừa con chồng chui vào hang vần đá lấp cửa cho chết ấy mà !

Con trâu đầu đàn hô lớn :

-Hãy vào ăn hết lúa của con mụ dì ghẻ độc ác đi!

Mụ dì ghẻ trông ruộng nương nghe đàn trâu rừng nói thế sợ mất lúa chạy ra đuổi thì bị một con trâu múa sừng cong nhọn húc bắn lên trời rơi xuống đất thủng bụng tan xác. Đàn trâu vơ hết lúa vào bụng rồi về rừng.

Cầm Vân kể – Ghi ở Trường TNDT Lũng Mu Mường Lò 1980.

Nguồn gốc cây lúa nếp hương Tú Lệ

Ngày ấy trời làm hết đại hạn đến đại lụt, mùa màng thất bát, mấy trăm giống lúa không còn, con người con vật lâm nạn đói, củ mài không có mà ăn.

Người con thứ của Tạo Xuông Tạo Ngần là Tạo Đẩu cai quản bản Phạ núi Khau Phạ thấy dân đói khổ đã ngày đêm lo lắng suy nghĩ cách tìm ra nguồn sống cứu trăm họ. Chỉ sau một đêm thao thức đầu tóc Tạo Đẩu bạc phơ.

Sáng ra Tạo Đẩu lập đàn cúng Then giữa cánh đồng cỏ hoang không còn một cây lúa cây bắp mọc. Tạo Đẩu quì trước đàn cầu khấn bảy ngày bảy đêm liền xin được ban hạt giống để trồng cấy lấy ngọc thực nuôi người nuôi vật sung túc như thời ông cha. Đêm cuối cùng Tạo Đẩu mệt quá thiếp đi thì mơ thấy một cụ già đầu tóc bạc trắng như mây hiện lên bảo :

-Ta là Then giáng trần cho nhà ngươi mấy hạt lúa này làm giống mà khôi phục nghề trồng lúa cứu đói cho dân.

Nói rồi Then đặt vào lòng bàn tay Tạo Đẩu ba hạt lúa nếp thơm lừng. Tạo Đẩu bừng tỉnh định nói lời cảm ơn thì không thấy cụ già và hạt lúa nào cả. Trên trời Khau Phạ chỉ có một vệt sao băng bừng sáng và tắt vụt.

Hôm sau Tạo Đẩu ngược suối Nậm Lung lên đèo Khau Phạ. Tạo Đẩu đi mãi đi mãi bảy ngày trời dòng dã thì thấy mấy khóm lúa mọc ở ven suối bông vàng chĩu hạt uốn cong cầu vồng tỏa hương thơm ngan ngát giống như ba hạt lúa trong mơ. Tạo Đẩu cho rằng đây chính là lúa của Then cho, liền ngắt về làm giống.

Ông gieo hạt thành mạ rồi đem cấy ruộng, không phải chăm sóc mà xanh tốt kỳ lạ. Đòng đòng như cái đũa cái. Bông lúa hạt vàng to như đuôi trâu. Lúa chín thơm lừng, ông gặt về phơi khô quạt sạch, chia cho trăm họ các bản mường hạt giống trồng cấy được một thứ gạo trắng dẻo thơm xôi lên ngào ngạt cả làng muốn ăn . Nhưng gạo ngon thơm dẻo và ăn không thấy ngán hơn cả là giống lúa nếp cấy ở cánh đồng màu mỡ Tú Lệ.

Từ ấy người Thái người Xá chín châu mười mường thoát khỏi nạn đói và nếp hương Tú Lệ nổi tiếng còn truyền đến ngày nay.

Cầm Vân kể – Ghi ở Trường TNDT Lũng Mu 1980

Dòng Nậm Đung chảy từ Thác Mây lượn qua ba núi cao Khau Phạ, Khau Soóng, Khau Som xuống các bản người Thái : Nà Hẩu, Búng Sủm, Pom Van, Cò Noòng trù phú êm đềm.

Người dân nơi đây uống nước suối Nậm Đung trong xanh mát lành, tắm nước khoáng Huổi Tum trừ bệnh, ăn cá Sỉnh thơm nức với xôi gạo nếp tan dẻo ngon ngọt ngào, ăn rau dớn ven suối nấu với ốc đá xanh mềm dòn. Do đó sinh ra những nam thanh nữ tú nổi tiếng bao đời. Bản nào cũng nhiều con gái xinh đẹp tài hoa đáng chọn làm Sao Tổn Khuống Lắc Xáy Cốc và bốn Sao Lắc Xáy ngồi trên Sân Hoa Hạn Khuống trong lễ hội Lồng Tồng mỗi xuân về.

Do con người săn bắn đã từ lâu nơi đây thú rừng không còn. Vậy mà trong rừng Khau Phạ vẫn còn vang tiếng con hươu đực gọi con hươu cái kéc kéc kéc. Thợ săn các bản đặt bẫy, dẫn chó đi săn, bủa lưới, bắn súng kíp đì đùng mà nó vẫn còn. Người ta vẫn nhìn thấy con hươu vàng rất đẹp như con bê đầu đội bộ sừng chạc ngoắc một chùm phong lan hoàng thảo hoa vàng trông càng đẹp hơn, lững thững từ rừng Khau Phạ ra bờ Nậm Đung đi dạo qua các bản người Thái bất chấp sự đe dọa của những tay súng săn. Người ta bảo con hươu vàng có phép màu Then cho nên vẫn sống đàng hoàng như vậy. Nhưng nó sống độc thân, chưa ai nhìn thấy nó có đôi. Có điều rất lạ con hươu vàng chỉ hiện ra và làm thân với những cô gái đẹp nết na nhất các bản. Rồi những cô gái ấy như bị bỏ bùa mê không lấy chồng và chỉ tơ tưởng đến con hươu vàng bên bờ Nậm Đung…

Một hôm cô Cầm Nhinh ở bản Búng Sủm đi làm nương về ngồi nghỉ ở bờ Nậm Đung thì con hươu vàng từ rừng Khau Phạ thong thả đi ra. Trên gạc sừng nó ngoắc một chùm phong lan hoàng thảo hoa vàng rất đẹp. Nó tiến đến gần Cầm Nhinh quì xuống, nghiêng chùm hoa về phía cô như có ý dâng tặng. Cô ngạc nhiên và sợ nhưng thích hoa lan vàng đã gỡ lấy. Con hươu vàng nhìn cô đăm đắm một lúc rồi bỏ về rừng. Cô mang chùm hoa về gắn lên cây cổ thụ trước nhà. Chùm hoa thật đẹp tươi như cô Cầm Nhinh vậy. Từ ấy cô để ngoài tai những lời hát khắp báo sao (nam nữ) và tiếng sáo pí pặp tỏ tình của những chàng trai bản. Cô chỉ mơ màng thương nhớ con hươu vàng. Mùa nào thức ấy cô mang mía, trái mắc cọp, măng rừng, cum lúa nếp tan đem đến chỗ gặp con hươu, chờ đến tối nó ra ăn xong mới trở về. Mấy chàng trai nhờ bà mối mang lễ vật đến nhà hỏi cô làm vợ , cô đều từ chối. Cầm Nhinh bỗng nhiên ít nói cười, lúc nào cũng buồn rười rượi như người mất hồn. Mỗi lần ngắm chùm phong lan vàng trên cây cô lại nao lòng nhớ hươu vàng và mang thức ăn đến cho nó. Ăn xong nó liếm tay cô ngửi mái tóc thơm và cô vuốt ve nó vẻ âu yếm. Những ngày xa hươu vàng, chiều chiều Cầm Nhinh đau đáu nhìn xa hút ngọn núi Khau Phạ như đợi như chờ ai đó cho đến ngày tóc bạc lưng còng…

Sau đó vài ngày cô Lò Miên ở bản Cò Noòng cũng gặp con hươu vàng bên bờ Nậm Đung dâng chùm phong lan vàng. Biết chuyện cô Nhinh cô Ban, Lò Miên không thèm lấy chùm phong lan hoàng thảo trên sừng hươu. Cô lượm hòn đá sắc cạnh giáng mạnh xuống đầu hươu rách da dạn sọ chảy máu ròng ròng. Con hươu vàng bỏ chạy một mạch vào rừng, vừa chạy vừa kêu kéc kéc kéc… Chuyện tưởng có thế nào ngờ cô Lò Miên bị ốm liệt giường liệt chiếu, miệng lảm nhảm và kêu kéc kéc kéc suốt đêm. Gia đình phải nhờ thầy cúng mới khỏi. Nhưng Lò Miên thành người ngơ ngẩn vào rừng Khau Soóng đi đi lại lại vạch cây vạch cỏ như tìm vàng đánh rơi. Rồi một hôm không trở về. Ba ngày sau người đi rừng thấy xác cô dưới dòng suối cạn mang về bản cho gia đình làm tang ma.

Tiếp theo ở bản Nà Hẩu có cô gái hai lần được chọn là Sao Tổn Khuống chúa Lắc Xáy Cốc ngồi ở trung tâm Sân Hoa Hạn Khuống trong lễ hội Lồng Tồng của mường bản. Cô tên là Quảng Sa Nhất đẹp người đẹp nết, làm nương giỏi, dệt thổ cẩm tài, hát khắp sao báo và đàn tính tẩu khiến người nghe mê ly ngây ngất. Hơn các cô gái khác cô là người đầu tiên của xứ mường học chữ Thái đậu tú tài, có người yêu sắp cưới là quan Tổng trấn Qui Hóa. Trong hội Lồng Tồng nhìn Lắc Xáy Cốc đẹp như tiên , quan Tổng trấn cất tiếng hát : ” Tôi từ bản xa nhìn thấy lửa. Nhìn thấy bóng áo cỏm của em. Nhìn thấy má hồng muốn hỏi thăm. Nhìn thấy sân hoa muốn đến chơi. Sân hoa của người yêu đấy...” Lập tức Sao Tổn Khuống Lắc Xáy Cốc Sa Nhất cất lời du dương ấm áp đáp : ” Anh từ phương trời nào tới đây? Chim khôn sao lạc trong rừng xanh tươi này? Muốn đón anh lên sân hoa nhưng nấc thang còn ở mãi trong rừng xa. Một mình em không lấy được. Phải nhờ bạn mới có thang về…”

Nghe câu chuyện hư thực của bốn cô gái, người thì bảo con hươu vàng là con hươu quỉ, nó là cái vỏ của linh hồn chàng trai chết yểu chưa vợ nhập vào. Người thì bảo không phải thế mà là con quỉ dâm ô khoác lốt hươu. Nó bắt vía các cô gái làm vợ, nếu không ưng thì nó giết. Duy chỉ có Quảng Thống Cầm Ngọc Lương ở bản Nà Hẩu nói : “Nó không phải là con hươu ma nhập quỉ ám mà là một con hươu đực đích thực có linh hồn động vật mà Then cho quyền đòi loài người phải trả giá vì các chàng trai các bản Nậm Đung đã săn bắn tận diệt hươu cái, nên con hươu đực sống sót không có vợ, buộc linh hồn giới tính hươu đực phải bắt vía các Sao Tổn Khuống của người Thái làm vợ của nó để trả nợ đời mà thôi!”

(Xuất xứ Truyện Sao Tổn Khuống của Thế Sinh)

Ngày ấy ở mường Lay có đôi trai gái phải lòng nhau. Chàng tên là Lường Xuân ở bản dưới. Nàng tên là Cầm Va ở bản trên.

Hàng ngày hai người lấy cớ đi rừng hái củi, xuống chợ bán nấm hương để được gặp nhau tâm tình dưới bóng cây si bên bờ sông Đà trong xanh êm đềm. Họ say sưa chuyện trò nguyền non thề núi, thổi pí pặp , hát khắp sao báo và đan tay nhau âu yếm từ lúc giọt sương mai còn óng ánh trên lá cành đến lúc mặt trời lặn núi khói lam mới trở về.

Nhưng rồi một hôm nhà vua bắt Lường Xuân đi lính về tận Kẻ Chợ luyện binh. Họ gặp nhau chia tay dưới gốc cây Si in bóng sông Đà. Chàng tặng nàng tấm khăn Piêu thêu chỉ hồng, chiếc áo cỏm có hàng khuy bướm trắng và cái thắt lưng hồng. Nàng tặng chàng cái túi thổ cẩm chính tay nàng dệt và thêu đôi chim cu gáy đậu bên nhau trên cành. Chàng nói :

-Từng ngày tới trong quân ngũ lúc nào anh cũng nhớ đôi mắt bồ câu của em, đôi vai ngần trắng của em khi tắm suối, nếu có thấy một cô gái Kinh Keo nào khác thì anh không thấy họ mà chỉ thấy em đội khăn piêu mặc áo cỏm thắt lưng hồng. Cái túi thổ cẩm em thêu đôi chim gáy, ngày nào anh cũng sẽ mở ra xem và ngửi mùi hương tay em . Anh đợi em cho đến ngày mãn lính trở về cưới em làm vợ. Sông Đà còn đây. Cây Si già còn đây. Tình anh yêu em không bao giờ phai. Em ơi!

Nàng để cằm trên vai chàng thỏ thẻ nói :

Rồi chàng đi biền biệt không tin tức gì. Cầm Va chờ đợi Lường Xuân năm năm , chín năm. Ai cũng bảo Lường Xuân chết trận rồi. Những năm đầu nhiều chàng trai cầu hôn, Cầm Va đều từ chối. Có kẻ hăm dọa cho nàng suy nghĩ không lấy sẽ giết. Nàng phải chạy trốn đi ở nhờ bản khác mai danh ẩn tích. Như lời đã thề, ngày nào nàng cũng tìm đến gốc cây si già bên bờ sông Đà thầm hát những lời khắp nhớ nhung Lường Xuân và hái lá si thả xuống dòng sông trôi về xuôi gửi chàng. Đã mười lần cây si thay lá và thay màu rễ chùm trắng râu. Cầm Va vẫn hy vọng gặp lại chàng Lường Xuân. Nhưng rồi sau một đêm dông bão to, chủ nhà nàng tá túc không thấy Cầm Va trở về.

Mười năm sau. Lường Xuân xuất ngũ trở về mường Lay tìm đến nhà Cầm Va thì chỉ còn một bãi lau hoang những bông trắng xóa gió đìu hiu. Chàng kêu than thảm thiết : ” Cầm Va em ơi! Biết tìm em ở đâu bây giờ?” Thấy chàng thơ thẩn như người mất của, già bản cho chàng biết tin Cầm Va bị ép duyên đã trốn khỏi quê hương lâu rồi không biết đi đâu ở đâu? Chàng lại tìm đến cây si già bên bờ sông Đà. Cây Si còn đây mà nàng ở đâu ? Một mình một bóng nhớ nàng quá , chàng rút cây pí pặp đưa lên môi thổi. Tiếng sáo gọi bạn tình u buồn vang vọng dòng sông. Bỗng đâu làn gió hiu hiu thổi bên mình, chàng ngừng môi, quay lại thấy Cầm Va ngồi bên tự lúc nào? Chàng nhìn đăm đắm nàng vẫn đẹp như ngày xưa. Vẫn giọng nói thỏ thẻ oanh vàng. Hai người hàn huyên kể cho nhau nghe không biết bao nhiêu chuyện đời chuyện mình chông gai chắc trở trong mười năm xa nhau. Càng kể lòng càng bốc cao ngọn lửa tình sắt son chung thủy. Cho đến khi chàng ôm lấy nàng thì nàng lùi lại và mất biến. Trước mắt chàng chỉ thấy cái đầu lâu với hai hốc mắt sâu hoắm tối om. Lường Xuân bao phen trận mạc kiên cường mà giờ hoảng sợ bỏ chạy. Cái hình hài đầu lâu và bộ xương rượt theo chàng. Chàng chạy đúng như bị ma đuổi thở không ra hơi, suýt bị túm thắt dây lưng. Chân chàng cùng đường nhảy bừa vào bụi cây đao dại. Lúc ấy trời vừa sáng, tiếng gà rừng gáy vang. Dưới chân bụi đao dại, chàng thấy hình hài người con gái đầu khăn piêu mặc áo cỏm thắt lưng hồng nằm sóng soài. Đúng là khăn áo mà chàng tặng nàng ngày lên đường nhập ngũ. Đúng là Cầm Va của Lường Xuân rồi nhưng chỉ còn là nắm xương khô trong bộ trang phục con gái Thái đụng vào mủn thành tro.

Từ ấy người Tày Thái có tục lấy cành lá đao dại làm vật linh trừ ma tà. Cứ đến ngày 30 tết nguyên đán người ta lấy cành lá đao dại mang về cắm trước cửa cho ma tà sợ không dám vào nhà.

Cầm Vân kể Ghi ở Trường TNDT Lũng Mu năm 1980 .

Ở bản nọ có người ở rể là Sa Khả Lân, bố vợ là Đèo Lầm Khẳng. Bố vợ luôn luôn giao việc cho người ở rể.

Một ngày cuối năm, rét buốt chết cóng cá rô. Đèo Lầm Khẳng khoác áo chùm len dạ kín từ đầu đến chân, sai con rể lặn xuống ao tháo nút đõ cống để bắt cá chuẩn bị ăn tết nguyên đán. Sa Khả Lân vâng vâng dạ dạ rồi đi ngay.

Tới bờ ao thấy mặt nước bốc sương khói mù mịt, hơi lạnh tím bầm da, chân tay tê cóng cứng đờ, Sa Khả Lân bèn vơ nắm cành củi khô nhóm lửa sưởi và hút thuốc lào sòng sọc cho ấm người.

Đèo Lầm Khẳng đủng đỉnh xuống bờ ao xem thằng ở rể đã thực hiện lệnh của bố vợ chưa? Xem rồi, Đèo Lầm Khẳng cứ đứng lì để ốp, lưng quay vào đống lửa, mắt nhìn xuống cửa đõ cống . Sa Khả Lân rít một hơi thuốc lào phả khói trắng, tiện tay cầm đóm lửa châm vào tà áo chùm phía sau của bố vợ. Tức thì áo choàng của Đèo Lầm Khẳng bốc cháy ngùn ngụt. Người ở rể kêu toáng lên :

-Kìa! Kìa bố! Cháy áo ! Nhảy xuống ao mau lên !

Bố vợ hoảng hốt nhảy ùm xuống ao. Áo lửa tắt ngấm. Đèo Lầm Khẳng rét run lập cập lóp ngóp tìm đường lên bờ. Sa Khả Lân nói :

-Bố ơi! May quá! Bố đang dưới ao đã ướt áo rồi. Tiện thể bố giúp con tháo luôn cái nút đõ cống với!

Vậy là Đèo Lầm Khẳng bố vợ buộc phải thực hiện công việc của thằng ở rể.

Một hôm bố vợ bảo Sa Khả Lân:

-Sáng nay hai bố con ta lên đồi cắt cỏ cho ngựa.

-Dạ dạ! Bố cầm dây thừng đi trước! Con cầm liềm theo sau!

-Có hai việc cắt cỏ và vác cỏ về nhà. Cho con chọn một, còn một ta làm.

Sa Khả Lân nhanh nhẩu đáp :

-Bố vác, con xin cắt!

Thế là Sa Khả Lân cầm liềm cắt sồn sột. Đèo Lầm Khẳng ung dung ngồi đợi vác cỏ về nhà. Sa Khả Lân cắt xong bó thành một vác cỏ để đó… Bố vợ nhìn ra thấy vác cỏ mà chẳng thấy thằng ở rể đâu, gọi ầm ĩ, không thấy thưa, sợ trời nắng to, vội vàng vác bó cỏ về trước. Bó cỏ nặng quá, Đèo Lầm Khẳng mồ hôi nhễ nhại, ì ạch cố hết sức vác về đến nhà, ông định vứt nhanh xuống chuồng ngựa, thì từ trong bó cỏ Sa Khả Lân kêu lên :

-Từ từ bố ơi! Bố vứt mạnh con vỡ đầu gẫy chân bố ạ!

Vậy là lần thứ hai Đèo Lầm Khẳng phải làm theo ý của thằng ở rể.

Sáng hôm sau Đèo Lầm Khẳng và thẳng ở rể lại lên đồi cắt cỏ ngựa. Để trả đũa hôm qua, Đèo Lầm Khẳng cắt cỏ. Sa Khả Lân chờ vác cỏ. Trong thời gian đợi, Sa Khả Lân leo lên đỉnh đồi vần những tảng đá thành một đống. Thấy bố vợ đang thu cỏ buộc thành hai bó. Tức thì Sa Khả Lân vừa lăn đá xuống vừa thét to:

-Bố ơi chạy đi ! Đá lăn xuống đấy!

Đèo Lầm Khẳng chạy phía nào cũng có đá lăn phía ấy. Ông chạy đi chạy lại lung tung. Nhảy vào chỗ có tổ ong vò vẽ, Đèo Lầm Khẳng bị ong đốt sưng đầu từng nốt như quả táo ngồi rên hừ hừ. Thế là Sa Khả Lân đẵn cái cây làm đòn xóc gánh hai bó cỏ nhẹ nhàng đi về nhà. Bố vợ cầm liềm đi theo sau chốc chốc lại rên :

– Ô là là!… Trời ơi là trời ! Buốt đến tận óc…

Lần thứ ba thua mẹo lừa của thằng ở rể, Đèo Lầm Khẳng tức lắm. Nhưng ông cố nén giận. Vụ cấy đã đến. Đèo Lầm Khẳng định thuê người nhổ mạ, liền bắt con gà sống thiến nhốt vào lồng để làm thịt thiết đãi thợ, trông thấy thằng ở rể, ông lại thả con gà ra. Sa Khả Lân nói :

-Bố không phải thuê ai cả. Việc nhổ mạ để con lo cho. Sáng mai bố gọi thợ cấy đến ruộng sẽ có đủ mạ cho họ gánh đi cấy.

Đèo Lầm Khẳng mừng thầm có thằng ở rể nhổ mạ đỡ tiền công thuê và đỡ tốn cơm nuôi, liền gật đầu :

Vào lúc nửa đêm Sa Khả Lân ra ruộng túm những ngọn mạ buộc lại như những bó mạ đã nhổ, rồi về nhà. Sáng ra những thợ cấy tới gánh mạ thì gốc bó mạ vẫn dính liền đất không cầm lên được. Thế là họ phải nhổ mạ hôm sau mới gánh đi cấy. Đèo Lầm Khẳng cho gọi thằng ở rể đến trước mặt mắng :

-Hôm qua mày lại lừa ta không nhổ mạ mà chỉ buộc ngọn mạ thôi!

-Có gì đâu bố ạ ! Con gà sống thiến đã nhốt vào lồng định làm thịt cho thợ nhổ mạ ăn bố còn thả nó ra nên việc nhổ mạ còn dính mặt đất là lẽ tất nhiên mà thôi!

Nghe xong Đèo Lầm Khẳng giận tím mặt tím môi không nói bỏ đi. Lần thứ tư thua thằng ở rể, nhục lắm, ông không gả con gái cho Sa Khả Lân bèn phá đám. Đêm đêm ông xích con chó dữ ở chân cầu thang con gái. Cửa buồng con gái ra sàn ngoài ông khóa lại. Ông làm thế để cấm thằng ở rể không được bén mảng đến buồng con gái của ông. Sau thời gian ở lạnh, ông không cho cưới mà chỉ trả công đứa ở cho Sa Khả Lân là xong. Biết âm mưu của bố vợ chia uyên rẽ thúy, Sa Khả Lân chờ cho bố vợ đi ngủ, đêm thì vứt cho con chó dữ khúc xương, đêm thì ném cho miếng thịt. Con chó trước lạ sau quen, vừa ăn vừa múa đuôi, Sa Khả Lân chọc que vào gầm sàn chỗ người yêu nằm. Nàng dậy mở cửa hậu cho chàng đường hoàng đi qua con chó dữ leo thang lên buồng ân ái với người yêu. Đến ngày cuối cùng ở rể thì con gái của Đèo Lầm Khẳng đã có bầu sáu tháng. Đèo Lầm Khẳng gọi Sa Khả Lân đến bảo:

-Tao chịu thua mày ! Tao thừa nhận mày là con rể phản bố vợ nhưng phản một cách thông minh thật đáng yêu! Mày về thưa với ông bà bên nhà chuẩn bị làm lễ cưới mau! Chậm ngày nào thì bố vợ mày muối mặt với dân bản ngày ấy hiểu chứ!

Sa Khả Lân lạy bố vợ rồi đi ngay…

Lò Cẩm Tú kể – Ghi ở Mường Lò 1980.

Nhà kia có cậu bé ham chơi đánh cù quay đến mức con quay quay tít thế nào thì nó mê chơi thế ấy.

Cậu bé đã đến tuổi đi học chữ Thái. Nhưng nó chỉ giả vờ cắp sách đến trường rồi trốn học đi đánh quay. Cho nó dắt trâu đi chăn. Nó buộc trâu vào gốc cây đánh quay với bạn , tối ngày dắt về bụng trâu đói lép kẹp. Cậu bé ham chơi quay đến lúc đói bụng mới tạm ngừng, chạy về nhà, thò tay vào chõ xôi nếp, bốc ăn ngồm ngoàm.

Biết con chơi quay quá trớn đã thành hư, người cha gọi cậu bé đến đầu nhà chỉ lên cái tổ chim sẻ trong ống bương đòn tay:

-Con biết đấy ! Chim sẻ cắp rơm vào cái ống kia làm tổ, đẻ trứng ấp trứng. Trứng nở chim con. Chim cha chim mẹ săn bắt châu chấu cào cào cắp về bón cho đàn con ăn. Đàn con đủ lông đủ cánh, chim cha chim mẹ dẫn chúng ra khỏi ống, dạy bay chuyền trên mái nhà trên cây. Đàn con chăm chỉ tập bay, rồi bay theo chim cha chim mẹ, tập bắt châu chấu cào cào trên cây dưới ruộng lúa làm mồi ăn. Con thấy chim sẻ khác con trai của bố điểm gì không?

-Chim sẻ khác con có cánh bay còn con thì không?

-Chim sẻ khác con ở cái nết chim mẹ chim cha chịu khó làm : Cắp rác xây tổ, săn mồi nuôi con, dạy con tập bay tập săn châu chấu cào cào, chim con chịu khó học bay chuyền, học săn mồi để kiếm sống. Chim sẻ không bao giờ chơi cái trò gì vô ích như con đánh quay cả ngày. Con khác chim sẻ ở điểm ấy. Con hãy học theo chim sẻ bé học tập để lớn lên biết làm ăn nên người. Con chơi quay giải trí một lúc thôi, còn để thời gian học chữ, giúp đỡ cha mẹ việc nhỏ: nhặt củi, đun bếp, quét nhà, tưới rau, nhổ cỏ… Qua đó con được rèn luyện để trở thành người lớn biết lao động kiếm sống sau này. Con hiểu và làm được không?

-Dạ con hiểu và làm được ạ!

Nhưng rồi cậu bé tật nào vẫn thế, quên ngay lời bố dạy bảo, ngày nào cũng trốn học đánh cù, trốn làm đánh quay. Người cha mất nhiều ngày ngẫm nghĩ về cách dậy con mới chợt tìm ra một kế.

Hôm sau như thường lệ, thằng bé trong bụng có kiến bò, vội vàng bỏ ván quay, chạy thẳng lên sàn sục vào bếp, mở nắp chõ, thò tay vào bốc xôi để ăn thì ôi thôi trong chõ đầy những quay là quay…

Không có gì ăn, thằng bé đói quá, vã mồ hôi nhớt, hạ đường huyết sỉu đi. Lúc bấy giờ người cha ở ngoài vườn về, cho uống một cốc nước đường. Dần dần thằng bé mới tỉnh dậy.

Từ ấy cậu bé cai được cái trò nghiện chơi quay, bắt đầu học viết những chữ cái và hái nắm lá chè nấu ấm nước mời cha mẹ uống. Nhớ lại chõ quay, cậu bé cũng không còn hành vi ăn bốc nữa.

Cầm Vân kể- Ghi ở Trường TNDT Lũng Mu 1980.

Không biết xuất hiện tự bao giờ trong các bản mường người Thái có ma cà rồng. Đời cụ truyền cho đời ông, đời ông truyền cho đời cha, đời cha chuyền cho đời con, đời con truyền cho đời cháu rằng: Ma cà rồng cũng là người- thường là người đàn bà xinh đẹp cũng có chồng con làm ăn như mọi người trong bản trong mường. Nhưng ma cà rồng khác người thường ở chỗ luôn giấu ở nơi nó nằm một ống nước vo gạo ngâm xương người. Hễ khát là uống ừng ực. Ma cà rồng đi ăn vào ban đêm. Khi đi nó thọc hai ngón chân vào hai lỗ mũi phát ra ánh sáng xanh lè như đom đóm ma chơi. Nơi kiếm ăn của nó là bãi tha ma, bãi xúc vật chết hay nơi vừa mổ trâu bò lợn dê … còn vương máu tanh hôi. Nó la liếm và gặm xương hút tủy. Nhà nào có người ốm hay người ngủ say, nó mò vào giường chỉ cầm nắm cổ tay hay ghé môi hôn vào cổ là máu truyền sang người nó hết. Dòng máu từ tay từ cổ tuôn vào miệng của nó chỉ trong nháy mắt là cạn hết. Người ốm hay ngủ da xanh xao tím bầm rồi chết. Nhà ai có người chết chưa trôn hoặc trôn rồi đều phải canh giữ, gác nhà mồ, không cho ma cà rồng đến gần bởi nó đưa lá cỏ chè vè vào khe hở của quan tài hút máu tử thi. Ma cà rồng mẹ truyền ma nghiệp cho con, con truyền cho cháu, cháu truyền cho chắt thành huyết thống giòng giống ma cà rồng đời đời kiếp kiếp. Pháp sư thầy cúng cao tay, quan tạo, chúa mường tài ba cũng không trị được ma cà rồng. Khi người ta biết hoặc nghi ngờ người nào đó là ma cà rồng thì phải xa lánh, không bao giờ gần thì mới có cơ may thoát họa hút máu chết uổng.

Một hôm ở bản Thái Nà Bon có một gia đình ở mường Bú tới nhập cư. Hai vợ chồng khỏe mạnh đẹp trai đẹp gái và một đứa con bụ bẫm má hồng môi son như hoa. Họ xin phép trưởng bản cho phát hoang làm ruộng nương vườn tược nhà cửa làm ăn lương thiện. Họ phải rời mường Bú vì không chịu làm cuông cho nhà tạo. Trưởng bản Nà Bon là Khun Sa có quan hệ họ hàng nên bảo lãnh cho họ ngụ cư.

Nhưng thấy gia đình họ là người đẹp hát khắp báo sao hay, thổi pí pặp giỏi thì cho rằng họ là ma cà rồng. Còn đời trưởng bản Khun Sa thì còn có người gần gụi thân thiện. Nhưng từ khi trưởng bản Khun Sa chết, trưởng bản mới là Quảng Tham lên thay thì cái tin đồn họ là ma cà rồng ở mường Bú chạy làng tới Nà Bon khiến dân bản xa lánh hẳn. Người chồng lâm bệnh , người vợ mời thầy lang bản Nà Bon chạy chữa, thầy lang nói :

-Cái ma nhà ta không cho ta chữa bệnh cho chồng nhà chị đâu về đi!

Người vợ lại đi mời thầy cúng, thầy cúng nói:

-Thánh nhà ta thờ kị cái ma nhà chị không cho ta đến cúng đâu về đi!

Thế là người chồng chết. Hai mẹ con sống cô đơn bị cộng đồng bản Nà Bon bỏ rơi.

Thấy người mẹ còn tràn đầy xuân sắc, trưởng bản Quảng Tham lân la đến tán tỉnh gạ gẫm, người đàn bà mới góa chồng chưa mãn tang tát cho trưởng bản một cái cảnh cáo. Trưởng bản Quảng Tham tức điên quát :

-Mẹ con mày là ma cà rồng từ mường Bú sang đây! Trong bản vừa qua có 10 người ốm chết cùng với chồng mày không phải do dịch bệnh mà đều do mày hút máu họ. Sáng mai mẹ con mày phải cút khỏi bản Nà Bon của ta. Nếu không đi thì ông sẽ đốt nhà mày!

Hai mẹ con khóc lóc van xin :

-Ông ơi ! Lạy ông trăm lạy bỏ qua cho người góa chưa qua ba ngày tang ! Gia đình tôi là người lương thiện chạy nạn làm cuông không phải ma cà rồng. Tôi mong ông và bà con Nà Bon đừng tin những kẻ hồ đồ, thành kiến, định kiến, không ưa ai thì nhìn họ tốt thành xấu, thiện thành ác, người lành thành người ma cà rồng. Cùng là con cháu Tạo Cập Ý Kè, Tạo Xuông Tạo Ngần trăm sự cậy ông cho mẹ con tôi được sống yên lành.

Nhưng trưởng bản Quảng Tham không nghe. Sáng hôm sau hai mẹ con vẫn không đi, trưởng bản Quảng Tham sai lính dõng của tạo mường phóng hỏa căn nhà và đuổi họ ra khỏi bản.

Hai mẹ con dắt díu nhau ra đi cầu bất cầu bơ không biết còn sống hay chết ở nẻo rừng nào?

Hai mẹ con dắt díu nhau tới Khe Mo không có người ở, làm cái lều trú tạm, phát cây làm ruộng nương trồng lúa bắp sinh sống. Đất Khe Mo màu mỡ, hai mẹ con ăn nên làm ra, làm được cái nhà nhỏ bền vững hơn. Đứa con gái đã đến tuổi dậy thì rất xinh đẹp. Bà mẹ đặt tên cho con là Son.

Chẳng bao lâu người Thái di cư tới làm ăn đông đúc lập bản gọi là bản Khe Mo. Thấy Son đẹp gái da trắng như trứng gà bóc, nhiều chàng trai đi nhẵn chân cầu thang và chọc sàn nhưng Son chưa ưng chàng trai nào. Do đó đám trai bản kiềng nàng.

Trong bản có lão thầy mo tên là Thèn tuổi lục tuần, vợ sinh năm vịt giời, nên lão thèm đứa con trai nối dõi tông đàng. Nghe tin nhà kia có hai mẹ con không người thân thích, Mo Thèn lân la đến làm quen làm thân. Bà mẹ của Son bị ốm, Mo Thèn bảo có ma làm đã cúng trừ ma giúp. Thi thoảng đi cúng ma về Mo Thèn lại rẽ qua nhà cho gói xôi, cái đùi gà luộc. Rồi một hôm Mo Thèn mang ván xôi con gà trống tơ luộc đến nói chuyện với bà mẹ Son xin cái Son làm vợ lẽ đẻ cho đứa con trai. Nhưng Son không bằng lòng. Mo Thèn bày ra chuyện vứt con lợn chết ở ruộng cách nhà Son chừng vài chục bước có dấu chân của Son đi về đến cổng rồi cho người la lên là mẹ con Son là ma cà rồng đã hút máu lợn. Hai mẹ con Son hoang mang lo sợ kêu lên : “Trời ơi là trời! Mẹ con tôi một lần nữa lại bị vu oan là ma… rồi! Trời ơi!” Mo Thèn nói :

-Mẹ con bà cứ yên tâm! Tôi sẽ trừ được ma cà rồng ra khỏi mẹ con bà.

Mo Thèn lập đàn cúng, đọc thần chú, cho Son uống nước cúng thần thành người nửa tỉnh nửa mơ, ngủ với Mo Thèn cùng giường mà tưởng là ân ái với chàng trai mà mình yêu. Thế rồi Son có chửa sinh ra một cô bé chưa được ba ngày thì bà mẹ của Son lâm bệnh chết. Mo Thèn bị vợ đánh ghen và Son không đẻ cho lão con trai. Thế là lão phao tin mẹ con Son là ma cà rồng trắng trẻo rất đẹp gái đã hút máu bà lão chết.

Tạo đến khám nhà thì thấy cái lọ nước vo gạo ngâm miếng xương lợn ở đầu gậm giường kết luận mẹ con Son là ma cà rồng phải ra khỏi bản Khe Mo. Lính tạo đốt nhà, đuổi hai mẹ con Son bồng bế nhau đi biệt mường.

Son địu con gái lội suối vượt rừng lến núi Cấm tìm được cái hang đá làm chỗ ở, hái rau quả rừng, bắt con sóc con chuột làm thức ăn nuôi con, lúc con ngủ thì phá hoang trồng ngô bầu bí khoai nương để sinh nhai, lấy măng mộc nhĩ lén xuống bản xa bán lấy tiền mua muối. Mấy năm qua hai mẹ con Son trở thành người rừng.

Ngày ấy vua Lê Hồng Đức trị vì khai sáng trí tuệ cho dân. Tổng bản mở trường học. Một anh giáo trẻ người Kinh tới bản Khe Mo mở lớp. Lớp học có 10 trò con nhà phìa tạo và nhà giầu học chữ nôm Thái. Anh giáo rất thích đi săn đã bị lạc trong núi Cấm không biết đường về. Đêm tối thấy có ánh lửa trong hang đá, anh giáo đã tìm đến thì gặp hai mẹ con người rừng. Đói mệt lả đi, anh giáo được hai mẹ con người rừng cho ăn củ sắn nướng thịt chuột dang và uống nước ống bắng nên tỉnh lại. Sáng hôm sau anh giáo được người mẹ rừng dẫn đường chỉ lối ra khỏi núi Cấm về bản Khe Mo.

Anh giáo nói chuyện với tạo bản chuyện lạc rừng được hai mẹ con người rừng cứu. Tạo bản Khe Mo nói :

-Không phải người rừng đâu. Đó là hai mẹ con Son là ma cà rồng ở Khe Mo bị đuổi lên núi Cấm. Anh giáo mà để lộ chuyện này thì dân bản bảo anh là ma cà rồng vì đã ở với ma cà rồng dù là một đêm, thì lớp học tan mất, không ai học anh giáo nữa đâu.

Anh giáo có nghe chuyện ma cà rồng nhưng không tin. Anh giáo cho rằng đó là chuyện huyền hoặc như con ngáo ộp của người kinh để đe dọa trẻ thơ. Song ma cà rồng của người Thái trở thành thứ ma ám ảnh là đàn bà đẹp hiện hữu sống như mọi người nhưng hút máu người thực hư chưa bao giờ được phán xét phân minh. Dựa vào thói đời hồ đồ, dễ tin, định kiến, thành kiến mà những kẻ ác tư lợi đã lợi dụng để vu oan đày đọa trả thù cá nhân những người lương thiện mà họ không ưa. Chỉ có những kẻ ác có uy thế như tạo bản , thầy mo nói ai đó là ma cà rồng thì cả bản tin ngay và xua đuổi người ta. Thế là anh giáo bí mật mang gạo muối quần áo và cái chăn của mình lên núi Cấm vào hang đá thăm hai mẹ con Son, tìm hiểu để giúp họ trở về với cộng đồng làng bản. Nhưng không gặp, anh giáo để quà lại hang. Anh giáo cho rằng mẹ con Son sợ anh đưa người lên bắt nên đi trốn. Quá tam ba bận lên thăm họ thì anh giáo mới được gặp lại. Khi đã tin lòng bụng anh giáo tốt, Son kể cho anh giáo nghe gia đình cô đã hai lần bị vu oan là ma cà rồng. Lần thứ nhất ở bản Nà Bon do trưởng bản Quảng Tham tán tỉnh mẹ Son không được đã làm hại. Lần thứ hai do không đẻ cho Mo Thèn đứa con trai nên bị lão ta bày trò vu oan Son và bé gái sơ sinh là ma cà rồng. Son định mượn nắm lá ngón qua đời nhưng thương đứa con sơ sinh vô tội nên đã cắn răng chịu sống để nuôi con thành người. Anh giáo nghe Son kể thấy việc bất công, mất nhân quyền thì tức lắm và thương hai mẹ con Son bị phìa tạo và thần quyền Thái làm hại. Anh giáo quyết định dấn thân đấu tranh xóa bỏ thói định kiến thành kiến ghét ai thì vu người ấy là ma cà rồng, lật tẩy bộ mặt thật của Mo Thèn, đưa mẹ con Son trở về quê Khe Mo. Anh giáo thuyết phục tạo bản Khe Mo nhận thức về cái gọi là ma cà rồng có thật hay không, hay chỉ là ám ảnh do định kiến thành kiến truyền kiếp ? Rồi kể nguyên nhân chính hai lần gia đình nhà Son bị vu oan là ma cà rồng bị đuổi ra khỏi bản. Tạo bản Khe Mo, từ chỗ tin có ma cà rồng, nay nửa tin nửa ngờ, nhưng không dám quyết đoán nhận hai mẹ con Son trở lại bản. Tạo bản nói :

-Việc này khó lắm! Mo Thèn và dân bản sẽ bảo tôi và anh giáo đều là ma cà rồng thì nguy hiềm khôn lường. Có lẽ ta phải kêu lên quan chi châu giúp đỡ xem sao?

Nói trong có kẻ nghe ngoài. Chuyện anh giáo muốn cứu mẹ con Son trên núi Cấm đến tai Mo Thèn thế là lão tức điên nói một mình :

-Thằng thầy đồ có trí thức nó định kiện mình đây! Phải xóa bỏ lớp học mà nó truyền bá khoa học chống thày mo. Phải đuổi nó ra khỏi bản Khe Mo càng sớm càng tốt.

Thế là lão loa lên anh giáo đi lại với ma cà rồng đã biến thành ma cà rồng. Sáng hôm sau anh giáo lên lớp vắng tanh không một học trò. Dân bản kéo nhau đến nhà tạo đề nghị đuổi anh giáo ma cà rồng. Anh giáo sợ liên lụy đến tạo bản Khe Mo đành phải đi gặp quan chi châu nhờ can thiệp. Quan chi châu Mường Lò nói :

-Tôi đồng ý với thầy giáo là không có ma cà rồng! Muốn xóa bỏ nỗi ám ảnh đó phải có thời gian. Khi nào dân trí được nâng cao thì họ tự bỏ điều tin nhảm. Dân trí còn thấp bao nhiêu thì thế lực thầy mo càng cao bấy nhiêu. Dân nghe thầy mo hơn nghe quan. Lúc này ý tưởng của thầy giáo lớn lắm, đi trước thời đại rất xa, ngày nay chưa đủ điều kiện thực hiện. Có lẽ phải 5 thế kỉ nữa mới giải quyết được tận gốc vấn đề ! Về việc cứu hai mẹ con cô Son chưa về bản Khe Mo được đâu. Với tư cách cá nhân, thầy giáo có thể đưa họ xuống thị trấn làm ăn sinh sống với đồng bào các dân tộc ít định kiến thành kiến hơn và phải tạo cho họ một cái lai lịch mới ! Còn việc dạy học của thầy giáo thì phải lên quan Đốc học xin chuyển sang một châu phủ khác.

Được quan chi châu giúp đỡ, anh giáo trở lại núi Cấm đưa mẹ con cô Son xuống thị trấn Mường Lò, làm một cái lều ở gần chợ , được anh giáo giúp một ít tiền vốn làm nghề buôn thúng bán mẹt nuôi con. Ít lâu sau, Son còn trẻ xinh gái đã kết duyên với một người Kinh buôn muối sống hạnh phúc. Anh giáo đi gặp quan Đốc học không biết chuyển việc gõ đầu trẻ ở nơi đâu?

Dạy khỉ bỏ nghề phá lúa bắp

Ngày ấy khỉ trên núi Pú Chạng kéo xuống Mường Lò lấy trộm ngô lúa mang về núi đông kìn kìn. Con nào con ẫy lấy dây rừng cuốn quanh thân làm thắt lưng vặt lúa bông ngô bắp dắt đầy khệ nệ mang về hang núi. Chỉ một buổi sáng khỉ lấy sạch một khu ruộng lúa ngô rộng mênh mông. Trưởng bản Lò Quảng Thống lần theo lúa rơi lên núi Pú Chạng vào hang đá thấy lũ khỉ giấu lúa ngô đầy các khe đá trên thành hang cao chót vót. Nhìn kho lúa ngô của khỉ, ông kêu lên :

-Then ơi! Khỉ cướp lúa bắp thế này thì người Thái người Xá lâm nạn đói đến nơi rồi! Làm thế nào để trừ khỉ cứu dân Then ơi!

Trưởng bản Lò Quảng Thống tập trung dân bản mang chiêng trống gậy gộc ra đồng canh ruộng xua đuổi ầm ĩ, khỉ sợ chạy đi nhưng khi người trở về bản thì khỉ lại xuống phá lúa bắp.

Trưởng bản Lò Quảng Thống mất ăn mất ngủ nghĩ cách trị khỉ. Ông nhớ ngày là học trò một thầy đồ dạy chữ Thái có kể một câu chuyện Trạng Quỳnh bắt trộm mèo của vua Lê dưới Kẻ Chợ đã luyện mèo bằng cách để một bát cá và một bát rau. Nếu mèo ngửi bát cá thì Trạng quất cho một roi. Quá tam ba bận quất thì con mèo chỉ còn biết ăn rau. Vì thế vua Lê không đòi lại được mèo bởi mèo của vua quen ăn cá thịt. Vậy thì ta cũng phải dùng roi phạt khỉ để dạy khỉ bỏ nghề phá lúa bắp tất sẽ thành công.

Thế là ông cho đan bốn cái lồng tre hình vuông, trong treo những cum lúa bắp ngô. Phía trên ngỏ cửa để thang cho khỉ chen nhau vào thì thang rơi cửa sập xuống để bẫy khỉ đầu đàn và đồng bọn. Bốn lồng bẫy đó ông cho đặt ngay trên đường đi lấy lúa ngô của khỉ. Kết cục ông bắt được bốn lồng khỉ vài chục con và con khỉ già đầu đàn cho khiêng về nhà. Dân bản kéo đến nhà xem và hy vọng làm thịt để ăn cỗ còn xương khỉ nấu cao làm thuốc bổ cho trẻ em người già. Nhưng ông bảo :

-Tôi không giết thịt khỉ đâu. Tôi chỉ dạy nó từ bỏ thói cướp phá lúa ngô rồi thả chúng về núi Pú Chạng bảo nhau không xuống ruộng mường Lò của bà con bản ta nữa.

Nói rồi ông xích con khỉ già đầu đàn buộc vào gốc cây cho ngồi xem ông dạy lũ khỉ đàn. Ông cuốn dây quanh bụng 10 con khỉ dắt đầy lúa bông và bắp ngô. Xung quanh ông đặt bốn lồng khỉ còn lại cho xem ông cầm roi dạy khỉ. Ông vừa nói vừa quất roi vào mười con khỉ mang lúa bắp:

-Cướp phá lúa bắp của người này ! Còn phá lúa bắp ông còn đánh cho chết!

Tiếng roi mây vun vút. Tiếng khỉ kêu chí chóe khèng khẹc như là van xin inh ỏi. Con khỉ đầu đàn và bốn lồng khỉ nhìn thấy mà nhe răng, rúm mặt, mắt đỏ ngầu như vừa khiếp sợ, vừa thương xót, vừa giận tức căm thù người đánh đồng loại của nó. Ngững con khỉ bị đòn tươm tướp máu rơi trên đầu trên mặt khiến con khỉ đầu đàn chắp hai tay lạy như van xin ông trưởng bản tha tội cho chúng, đừng đánh nữa, chúng biết tội tồi. Ông ngừng tay nói :

-Hãy nhớ đòn mà về bảo nhau đừng xuống ruộng phá lúa bắp nữa. Nếu còn xuống thì còn ăn đòn nhiều hơn !

Con khỉ đầu đàn lại lạy ông lia lịa. Ai trông thấy cũng buồn cười.

Chiều hôm đó ông cho khiêng bốn lồng khỉ trả về núi Phú Chạng. Sáng hôm sau ông lại lên núi Pú Chạng quan sát thì không thấy một bóng khỉ nào xuống cánh đồng Mường Lò nữa.

Từ ấy người Thái người Xá mường Lò thoát nạn khỉ cướp phá lúa bắp. Nạn đói không còn đe dọa những ngày giáp hạt nữa. Câu chuyện trưởng bản Lò Quảng Thống dạy khỉ từ bỏ nghiệp cướp phá lúa bắp còn truyền đến ngày nay.

Lò Cẩm Tú kể- Ghi ở Mường Lò 1980.

Mối tình già bên dòng Nậm Thia

Ngày ấy, ở bản người Thái bên dòng Nậm Thia Mường Lò có chàng trai mới lớn tên là Cầm San lúc nào cũng ngóng nhìn lên đầu núi có nhà Lường Siêng. Đôi mắt chàng đau đáu như dán vào khăn piêu áo cỏm của ún Siêng.

Đêm đêm chàng cầm cây đàn tính tẩu gẩy tình tang rồi chọc sàn nhà ún Siêng. Chọc đi chọc lại nhiều lần theo nhịp điệu gọi gái : ” pạp pàm pạp”. Đến lần thứ bao nhiêu không nhớ hết ún Siêng mới đáp tình chàng. Hai người yêu nhau gắn bó như rêu với đá suối. Những đêm trăng sáng ngời ngợi ánh vàng lấp lánh Nậm Thia, hai người dạo trên bờ theo nhịp đàn tính tẩu, cùng hát khắp báo sao. Giọng chàng nam trầm lời yêu nồng nàn: ” Anh thấy em đẹp nhất mường Lò. Miệng cười tươi như hoa ban. Búp tay như măng sặt. Tóc như mây suối ngàn. Anh muốn lấy em về làm vợ… Không lấy được em làm vợ thì anh làm loạn giữa bản, làm giặc giữa mường… Không cưới được em mùa hạ anh sẽ chờ mùa đông… Không lấy được em lúc trẻ, anh sẽ cưới em khi góa bụa về già…” Giọng nàng nữ cao lời yêu thánh thót: ” Anh ơi ! Ta yêu nhau như đôi chim nộc co ke. Nếu mẹ cha gài lá cấm cửa trước thì anh cứ đến cửa sau. Nếu cửa sau căng chỉ đen buộc nút thì anh vào qua chái nhà, là con chim hót trên khau cút… Em sẽ mãi theo anh…”

Cầm San và Lường Siêng đang yêu nhau say đắm thì nhà vua bắt lính. Chàng phải ra trận. Hai người chia li chưa kịp nhờ bà mờ làm lễ dạm hỏi. Buổi nhập ngũ, nàng tiễn chàng nước mắt ràn rụa như mùa lũ Nậm Thia.

Lường Siêng đang chờ đợi tin tức của người yêu ngoài chiến trường thì đêm đêm trai bản rậm rịch dưới gầm sàn. Người thì thổi pí pặp, kẻ thì chọc gậy ” chọp chọp chọp “. Lường Siêng nghe những tiếng chát chúa khô khốc phải lấy bông nút kín hai lỗ tai.

Trong bản có gã Lò Pàn nhờ bà mờ mang lễ vật đến dạm hỏi xin ở rể. Cha mẹ gọi Lường Siêng ra nói :

-Từ nay con dệt vải và thổ cẩm may thêu quần áo chăn gối khăn chuẩn bị về nhà chồng. Cha mẹ đã đồng ý gả con cho chàng Lò Pàn giầu sang phú quí. Con sẽ được hưởng hạnh phúc trăm năm sung sướng nhất mường.

Lường Siêng khóc lóc thảm thiết nói :

-Thưa cha mẹ! Việc trăm năm con xin cha mẹ cho con tự quyết định! Con không muốn lấy gã Lò Pàn là con ma xó gần bằng tuổi bố! Con đã hứa lấy anh Cầm San rồi! Sau ba năm mãn lính thì chúng con xin phép cha mẹ được cưới nhau !

-Mày mất nết từ bao giờ thế ? Xưa nay cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy mày biết chứ ? Thằng Cầm San ra trận chỉ có ăn đạn giặc mà thôi! Mày định cưới con ma chém giết làm chồng à? Nếu nó sống trở về mày định nấu dây lưng da trâu lính tráng của nó làm cháo mà húp à! Hãy từ bỏ ngay cái ý nghĩ đại dột đó. Nếu không thì mày cút khỏi nhà tao ngay!

Nói rồi người cha cầm con dao quắm chém một nhát ngập lưỡi vào cây cột nhà sàn.

Lường Siêng giật mình hoảng sợ. Từ hôm ấy, nàng buồn rười rượi, bất đắc dĩ phải ngồi vào ghế khung cửi.

Biết nàng không ưng lấy mình, Lò Pàn chờ một hôm Lường Siêng lên nương, trước mắt những chàng trai bản, gã săn đuổi nàng ôm ghì xé hàng cúc bướm ngực áo cỏm, để nhìn bằng được hai bầu vú nây nẩy của nàng.

Lường Siêng vô cùng xấu hổ theo lệ cổ đành phải ngậm bồ hòn nhận lễ dạm, ở rể và cưới của gã Lò Pàn. Nàng làm vợ Lò Pàn nhưng vô cùng đau khổ khi mỗi lần thổn thức nhớ đến mối tình đầu của mình với Cầm San.

Ba mươi mùa măng ngọt măng đắng trôi qua. Cầm San tóc đã điểm sương mới được ra quân trở về bản. Người mường Lò không còn ai nhận ra được Cầm San nữa. Người ta gọi Cầm San là ông Ké.

Ké San đi tìm Lường Siêng thì gặp một bà mế đầu tóc bạc phơ bên bờ Nậm Thia nơi ngày xưa hai người đi dạo vừa đàn tính tẩu vừa hát khắp báo sao không bao giờ quên. Hai người sững sờ nhìn nhau nhận ra đôi mắt của nhau như người trong mơ như người ngày xưa. Ké San hỏi trước:

-Có phải bà là Lường Siêng mà tôi vẫn chờ?

-Phạ ơi! Ông là Cầm San mà tôi vẫn nhớ ! Bấy lâu ông ở đâu sao không về ?

Ông ké Cầm San mời bà mế Lường Siêng đến gốc cây cổ thụ ngồi hàn huyên. Ông kể cho bà nghe 30 năm một chặng đời mình làm lính canh biên cương rồi làm tình báo nằm vùng ở nước ngoài nay đã lục tuần mới được hồi hương hưu trí. Ông nói :

Bà mế rơi nước mắt nghẹn ngào nói :

Ông ké Cầm San cũng rưng rưng nói :

-Tôi không bao giờ khinh bà. Tôi biết số phận của tôi và bà không cưỡng lại được kiếp trần chiến tranh và tăm tối. Do đó tôi và bà đều chịu bất hạnh ba thập niên. Chữ trinh kia cũng dăm ba bẩy đường. Người ta chỉ giữ được hồn trinh chứ không giữ được phách trinh. Then cho chúng ta còn được gặp lại nhau hôm nay tiếp tục chắp nối mối duyên đầu. Tình trẻ chúng ta dở dang. Nay chúng ta đoàn viên xây dựng mối tình già. Tôi tin không còn một thế lực đen tối nào chia rẽ chúng ta nữa! Ngày mai tốt lành tôi muốn đón bà về ở chung một nhà!

Trước tình yêu chung thủy của ông ké Cầm San, bà mế Lường Siêng không thể từ chối đã đáp tình.

Bên bờ Nậm Thia êm đềm, khi trái gió trở trời , lúc tắt lửa tối đèn có nhau, họ sống những ngày cuối đời thật hạnh phúc có hậu duyên.

Cầm Vân kể- Ghi ở Trường TNDT Lũng Mu Mường Lò 1980.

Ngày ấy ông ké đi rừng gài bẫy được một chú nai con thật kháu khỉnh. Đôi mắt to, đôi tai dỏng cao, thân hình thon thon, bốn chân nhỏ dài chụm, cái đuôi cộc cũn cỡn.

Đứa cháu lên năm tuổi của ông ké rất yêu quí con nai con, không phút nào rời xa. Lúc thì cháu bé vuốt ve chuyện trò với chú nai con, lúc thì hái quả sung, bẻ cây rau vườn cho ăn. Cháu bé hỏi:

-Đằng ấy có mẹ không?

-Đằng ấy có nhớ mẹ nhớ rừng không?

-Đằng ấy có muốn về với mẹ với rừng không?

Cháu bé hỏi rồi lại thay lời nai con đáp :

-Thưa: Tôi có mẹ. Tôi sa bẫy chắc mẹ tôi rất buồn và đang đi tìm tôi!

-Thưa: Tôi rất nhớ mẹ và rất nhớ rừng!

-Thưa : Tôi rất muốn về với mẹ với rừng! Cậu có thể giúp tôi được không?

-Được lắm chứ ! Nhưng phải được ông ké của tôi đồng ý đã!

Chiều hôm ấy có người khách dưới xuôi vào nhà hỏi mua chú nai con nói dối là nuôi lấy nhung nhưng để nấu cao tồn tính làm thuốc gọi là cao Ban Long. Ông ké định bán, thì cháu bé ôm chặt lấy chú nai con khóc lóc nói :

-Ông không được bán bạn nai của cháu ông ơi! Cái ông Keo kia không được mua bạn nai của tôi. Hãy về đi!

Mấy ngày sau, bà con trong bản mang bầu nậm rượu đến nhà nói :

-Nghe tin ké bẫy được nai tơ, chúng tôi mang rượu đến ăn cỗ khao thịt nai đây!

Thế là đứa cháu của ông ké ôm lấy chú nai khóc lóc nói :

-Các người muốn uống rượu nhắm thịt nai bạn tôi thì trước tiên hãy cắt tiết tôi nướng chả mà xơi, còn bạn nai của tôi hãy trả về rừng với mẹ nai của bạn ấy !

Trước khẩu khí có đức hy sinh lớn vì tình bạn động vật của cháu bé, mọi người ngạc nhiên, cảm phục và thôi ý đồ giết thịt chú nai con. Ông ké ôm cháu bé vào lòng vỗ về nói :

Đúng như lời hứa, hôm sau ông ké địu cháu bé sau lưng,hai tay bế chú nai con vào rừng tìm nai mẹ và thả chú nai con ra. Chú nai con cuốn quít bên hai ông cháu một lát rồi lon ton chạy đến với mẹ đang đứng chờ phía xa. Hai ông cháu nhìn hai mẹ con chú nai dẫn nhau đi khuất bụi cây rồi mới trở về.

Từ hôm ấy, ngẫm nghĩ về lời nói thiêng tuổi thơ của cháu mình, ông ké bỏ hẳn nghề bẫy thú rừng.

Lại nói người cháu của ông ké lớn lên làm quan kiểm lâm bảo vệ cây cỏ và muông thú rừng. Một hôm kiểm tra rừng không mang chó săn và vũ khí, quan kiểm lâm đang đi thì một con hổ rượt theo định tấn công phía sau lưng. Bỗng có tiếng nai kêu kéc kéc. Quan kiểm lâm quay lại thì thấy một con nai đực có bộ sừng kềnh càng chạy ra chặn đường hổ phi rồi chạy vụt đi khiến con hổ bỏ người để rượt theo nai. Nhưng đến dòng suối thì con hổ dừng lại. Nhờ đó Quan kiểm lâm cháu ông ké thoát nạn. Quan kiểm lâm tự nhủ : “Ở hiền gặp lành. Ngày nhỏ mình cứu chú nai con, giờ được bác nai già trả ơn cứu mình.”

Cầm Ngọc Tú kể – Ghi ở Mường Lò 1980

Trong rừng có một hồ nước trong xanh đầy cá tôm cua ốc. Cuối mùa hạ đàn vịt trời bay về bơi lội tung tăng kiếm ăn và làm tổ trên bờ cỏ đẻ trứng ấp trứng nuôi con.

Một đêm trời sao vằng vặc. Một cô vịt rúc đầu vào cánh đang mơ giấc thần tiên trên tảng đá bờ hồ. Chàng cáo trong rừng mò ra làm bữa tiết canh thịt vịt. Trông thấy cô vịt ngủ say, chàng cáo bước đi thật nhẹ nhàng đến vồ từ phía sau. Cô vịt không kịp vỗ cánh bay nên bị cáo bắt. Nhưng cô vẫn bình tĩnh cạc cạc nói :

-Chàng cáo ơi! Trước khi ăn thịt ta hãy nghe ta nói đã. Nếu không nghe ta thì rồi ngươi sẽ ân hận không kịp đấy!

Chàng cáo ngạc nhiên, hai chi trước giữ hai cánh cô vịt, miệng đáp :

-Nào nói đi ! Tao nghe xong thì ăn thịt mi càng ngon miệng!

Cô vịt ngửa mỏ hướng lên bầu trời có chòm sao Vịt sáng lồng lộng bảo:

-Chàng có nhìn thấy chòm sao kia hình gì không? Vì sao mà có hình ấy?

-Người ta gọi là… chòm sao Vịt… Ngoài ra… tao không biết gì hơn !

-Then cho dựng hình ta trên vòm trời để cho muôn loài hạ giới thấy ta là chúa tể của thiên hạ! Nếu Then biết ngươi xúc phạm thể xác ta thì cả loài cáo nhà mi bị Then phạt chết không còn một mống đấy!

-Mày nói láo, tao không tin !

Cô vịt giọng cứng cỏi thách thức :

-Cạc cạc! Không tin thì hãy thử xem!

Nghe xong, chàng cáo vốn sợ chết nên phân vân và từ từ buông hai chi trước ra. Cô vịt vỗ cánh bay vù lên trời sao, phóng một bãi cứt trắng vào mặt chàng cáo, eo ôi hôi thối kinh tởm quá chừng…

Quảng Đại kể- Ghi ở Trường TNDT Bảo Hà 1981.

Ngày ấy, ké Sung đi rừng bắt được một chú hổ con sa xuống hố đào củ mài. Ké Sung bắt nó bỏ vào lù cở địu về nhà. Các con các cháu và bà con chòm xóm đến nhà xem đều nói :

-Ông bà bố mẹ con hổ con đều xuống bản bắt trâu bò dê lợn chó và người để ăn thịt. Con hổ con này lớn lên sẽ trở thành con ác thú nguy hiểm lắm . Tốt nhất ké nên nấu nước làm lông mổ thịt nấu cháo mà ăn cho bổ gân cốt và trừ được mầm họa về sau.

Ké Sung nghe chỉ cười khì. Ké bảo:

-Con người con vật đều có tính hiền tính thiện và tính dữ tính ác trời cho. Một khi đối xử với nhau hiền thiện thì được hiền thiện, ăn ở với nhau dữ ác thì được dữ ác. Đó là lẽ tự nhiên. Loài hổ là thú ăn thịt các loài trâu bò hươu nai dê lợn được Then cho phép để bảo vệ cây cỏ núi rừng không bị tàn phá sạch sanh. Từ ngày loài người biết ăn thịt, săn bắn, bẫy bắt thú rừng tranh ăn với hổ nên bị hổ ghét. Hổ mất hết nguồn sống trong rừng nên phải xuống bản bắt trâu bò dê lợn nuôi của người. Người săn bắn hổ lấy thịt hầm ăn, lấy xương nấu cao hổ cốt làm thuốc, lấy da làm vật trang trí, nên hổ thù người, cắn chết người ăn thịt là lẽ tất nhiên. Nếu người không gây chiến tranh diệt hổ mà ăn ở với nhau thân thiện thì người ta có thể cưỡi hổ đi chơi và hổ bảo vệ ruộng nương giúp người không bị trâu bò lợn dê rừng phá hoại. Do đó tôi nuôi con hổ con này cho mọi người xem lớn lên nó hiền thiện hay dữ ác sẽ biết!

Từ ấy ké Sung nuôi chú hổ con như nuôi chó nuôi mèo. Ké ăn thức gì cho hổ ăn thức ấy. Ké đi đâu hổ cũng đi theo cuốn quít bên chân không rời xa. Dần dần ké sai bảo được hổ như sai bảo người.

Chẳng bao lâu hổ con lớn lên trở thành chàng hổ tráng kiện oai phong lẫm liệt. Hổ giúp ké trông nương ngô rẫy lúa không cho khỉ lợn rừng quấy phá. Thi thoảng hổ còn tha về cho ké một con lợn rừng làm thịt mời cả bản tới nhà ăn cỗ. Ké Sung không muốn chàng hổ làm thợ săn, liền bảo vác lợn trả lại rừng. Sau đó chàng hổ không bắt lợn rừng về nhà nữa.

Một hôm ké Sung chẳng may sẩy chân bị ngã sưng đầu gối không đi được. Chàng hổ ngửi ngửi liếm liếm vết thương của ông rồi phóng vào rừng một lúc sau trở về trên miệng tha một chùm cành lá đặt trước chủ gật đầu như nói:

-Con lấy cây thuốc về cho bố giã dắp vết thương sẽ khỏi ngay!

Ké Sung làm theo, sau một lần đắp thuốc, đầu gối không sưng nữa, mấy ngày sau khỏi hẳn. Ké Sung đi lại bình thường ôm đầu chàng hổ vỗ về nói :

-Ta cảm ơn thầy lang của ta nhiều lắm ! Chắc là trong huyết thống của con mang những bài thuốc hổ truyền phải không?

Chàng hổ lại gật đầu lia lịa như nói :

Mấy ngày sau, ké Sung dẫn chàng hổ đến nhà con gái chơi. Trong chòm bản có tiếng khóc người chết. Hỏi ra thì biết thân nhân của nhà chồng con gái. Chàng hổ cắn gấu quần ké Sung lôi đi theo hướng mũi ngửi đánh hơi tử khí đến nhà có người chết. Tử thi là một cậu bé da dẻ bầm tím thân lạnh toát. Chàng hổ ngửi ngửi rồi phóng một mạch vào rừng tha về một nắm lá xanh hoa trắng quả bạch. Ké Sung hiểu ngay đó là thuốc cải tử hoàn sinh trong truyện cổ tích liền cho vò ra thành nước giót vào miệng tử thi còn bã đắp quanh thân, trùm cái chăn thổ cẩm lên che kín. Chẳng mấy chốc cậu bé hất cái chăn thổ cẩm ra ngoài, ngồi dậy ngơ ngác nói:

-Cháu vừa ngủ một giấc dài sao?

Ké Sung được cha mẹ của cậu bé biếu một túi tiền bạc trắng nhưng ông nhất định không lấy, chỉ cùng chàng hổ dự một bữa cơm thiết đãi của gia đình có món cá sỉnh nướng ăn với cơm nếp lam bằng ống nứa non.

Từ ấy dân bản phong chàng hổ của ké Sung là Thầy Lang Hổ chuyên việc chữa bệnh cứu nhân độ thế.

Nhận được tờ sức của quan chi châu chột mắt, trưởng bản Hát Lót sợ run, cho gọi ké Sung lên bảo :

-Ông phải nộp Thầy Lang Hổ lên quan. Nếu không thì bản bị đốt sạch. Đây ông xem tờ sức của quan chi châu !

Xem xong, ké Sung ra về suy nghĩ rất lung. Ông quyết định tránh tai họa cho bản, liền đưa Thầy Lang Hổ lên núi Púng Luông vào hang đá ẩn trốn. Nhưng rồi núi Púng Luông bị phìa tạo các bản lùa thanh niên trai tráng mang trống chiêng chó săn súng ống vây quét săn bắn hổ. Thầy Lang Hổ đang uống nước dưới lòng khe thì bị trúng đạn chết. Phìa tạo mường Luông cho khiêng con hổ đực vừa bị hạ về nộp cho quan chi châu lấy thưởng.

Quan chi châu lọc thịt làm cỗ khao quan quân, còn xương cho cạo sạch rửa nước rượu phơi khô đóng gói dâng tiến vua. Vua cho quan Hổ học phân tích đúng là bộ xương hổ đực thượng hạng bèn khai lò dậy bách quan kĩ thuật nấu cao hổ cốt. Đồng thời nhà vua sắc phong cho quan chi châu chột mắt thăng quan trưởng quản lộ trấn Qui Hóa.

Quan chột mắt mở tiệc nhậm chức ba ngày liền. Các quan và lính dưới quyền mỗi người chúc tân quan một chén rượu ngô Bắc Hà. Thế là quan chột mắt đột quị chết lăn quay.

Vợ quan kêu trời thảm thiết cho mời thầy lang chín châu mười mường đến cấp cứu. Các thầy lang đều bó tay. Một thầy lang ở mường La nói :

-Ở bản Hát Lót có ké Sung nuôi một con hổ biết hái thuốc cải tử hoàn sinh đã từng cứu sống được nhiều người.

Vợ quan chột mắt liền cho đi đón ké Sung về dinh phủ chạy chữa. Ké Sung nói :

-Đúng là tôi có nuôi một Thầy Lang Hổ biết bài thuốc cải tử hoàn sinh. Nhưng tôi lại không biết vị thuốc. Thầy Lang Hổ chữa được nhiều người chết sống lại thì tiếc thay ngài đã bị phìa tạo thực hiện tờ sức của quan trên bắn chết ở khe suối Púng Luông và khiêng nộp quan chi châu để lấy thưởng rồi!

Vợ quan chột mắt ôm thi hài chồng la khóc:

-Ới anh là anh ơi! Chính anh đã sai xả thịt lóc xương tiến vua Thầy Lang Hổ cứu nhân độ thế rồi! Lấy ai cải tử hoàn sinh cho anh bây giờ, anh ơi!…

Thầy Lang Hổ bị chết oan khiến ké Sung và những người dân được cứu bệnh vô cùng đau buồn thương tiếc đã lập miếu thờ và tôn vinh ngài là Thần Y Hổ.

Quảng Đại kể- Ghi ở Trường TNDT Bảo Hà 1981.

Ngày ấy, Then tạo ra muôn vật. Mỗi vật có bổn phận quyền hạn nghĩa vụ nhất định và cách sống riêng trong trời đất. Hầu hết các vật không kêu ca than thân trách phận so sánh thiệt hơn ganh tị và mơ ước hão huyền. Song chỉ có con chuột là không thỏa mãn vai trò của mình trong giới động vật.

Đêm đêm chuột rúc kêu trời:

-Khổ thân nhà chuột quá! Ban ngày không dám ra khỏi hang vì sợ diều hâu chim cắt trăn rắn ăn thịt. Ban đêm mới ra khỏi hang kiếm ăn vẫn không tránh khỏi móng vuốt răng nanh mèo, mỏ khoằm cú mèo cú lợn. Ông trời ơi hãy cho chúng tôi được đổi đời thành mèo có được không? Mèo là khát vọng bao đời của chúng tôi nằm trong mộ vẫn còn mơ ước. Ông trời có thấu cho chăng?

Then ngủ không yên, giáng trần gặp chuột nói :

-Không muốn làm chuột thì ta cho ngươi biến thành mèo !

Thế là chuột từ từ biến thành mèo mắt xanh lè, hai răng nanh trắng nhọn hoắt, tứ chi có móng vuốt sắc, áo lông vằn vèo, ngày ngủ hai phần ba thời gian, giờ tý trở dậy đi săn mồi, kêu meo meo. Trên đường đi bị chó phát hiện sủa gâu gâu săn đuổi. Mèo phải trèo lên cây mới thoát nạn chó thì lại gặp gà trống chân có cựa đạp, vung mỏ nhọn xỉa, mèo lại nhảy xuống đất chạy re. Mèo chui vào nhà người cạy vung nồi ăn vụng cá kho thì bị bà già cầm đũa cả đánh túi bụi phải bỏ chạy. Vậy mèo chưa phải là con vật oai phong và sung sướng gì. Chuột hóa Mèo lại muốn làm chó liền kêu trời :

-Trời ơi là trời chuột làm mèo khổ lắm! Hãy cho chuột hóa mèo đổi đời làm chó có được không?

Then nghe tiếng lại giáng trần nói :

-Con chuột kia không muốn làm mèo thì ta cho ngươi biến thành chó !

Tức thì mèo hiện ra con chó mắt cánh gián, trán bánh chưng, lưng tôm càng, tứ chi cao, đuôi phất cờ, miệng sủa gâu gâu. Ngày đêm chó săn gà, đuổi mèo, dồn cáo, cắn chuột, sủa kẻ trộm, ăn cơm vãi đất, gặm xương, tranh nhau ăn, cắn nhau nhe răng kêu ăng ẳng om sòm. Trát lệnh quan trên xuống bản phòng bệnh dại, phìa tạo cho lính vác mã tấu chém chó chết vô tội vạ. Chó chạy vào rừng thì bị hổ gầm săn bắt ăn thịt. Ôi con hổ mới oai hùng làm sao!

Vậy là con chuột làm chó chẳng thấy sướng tý gì, lại muốn làm con hổ ngẳng mõm chu trời :

-Làm thân con chó khổ lắm trời ơi! Hãy cho chó đổi đời thành hổ mới sống nổi !

-Chán thân phận chó thì ta cho ngươi làm hổ!

Thế là chó hóa thành hổ cao to lực lưỡng, tứ chi mập mạp, móng vuốt nhọn sắc, bước đi oai vệ đường hoàng êm ái, hai răng nanh nhọn hoắt như dao găm, đôi mắt xếch sắng quắc, y phục vằn vèo, râu vểnh ngạo mạn, tiếng gầm rất chúa sơn lâm, muôn loài thú ăn cỏ nghe tiếng phải im hơi. Hổ đi đến đâu trâu bò hươu nai lợn dê bỏ chạy từng đàn bụi bay mù mịt. Người già trẻ con trông thấy hổ hồn bay phách lạc. Chó đánh hơi mùi hổ , quấn quýt chân người, miệng câm như hến, không dám hé răng sủa. Con chuột làm hổ đắc chí lắm, một lời ơn Then hai lời ơn Then ban cho hạnh phúc là đây!

Một đêm trong rừng thấy người thợ săn gắn đèn soi trước trán. Chúa sơn lâm ngồi bắt đèn tức thì ăn viên đạn đồng đạn chì, tiếng súng chưa nghe thì đã ngã lăn kềnh trong vũng máu lênh láng. Con chuột làm hổ thấy thế phá đầu chạy kêu trời :

-Ôi chuột không muốn làm hổ nữa đâu ! Hổ sinh sản ít lắm không đủ làm đích bắn cho người săn hổ lấy thịt làm cỗ, lấy da làm vật thờ cúng, lấy xương nấu cao hổ cốt. Hổ tuyệt chủng đến nơi!

Then tức tốc giáng trần nói :

-Con chuột làm hổ kia! Ngươi muốn làm trâu cày ngựa cưỡi voi thồ nữa không ?

-Dạ ! Chúa rừng con chẳng muốn làm thì trâu ngựa voi mà chi. Con không biết cày, không muốn lột da làm trống. Con không thích cho ai cưỡi và bị lột da bọc thây ma chiến tranh. Con không mốn làm voi để mất ngà. Con chán mơ ước đổi đời rồi ạ!

-Dạ vâng ! Dạ vâng! Dạ vâng!…

Nói rồi con hổ biến trở lại thành con chuột vội vàng trèo lên ngọn cây cau.

Quảng Đại kể- ghi ở Trường TNDT Bảo Hà 1981.

Trời ban cho Hổ làm chúa Sơn Lâm. Khi tấn phong Trời giao cho Hổ ấn tín. Trời dặn:

-Nếu để mất ấn tín về tay con vật khác thì con sẽ mất chức vua rừng! Do đó con phải giữ gìn cho cẩn thận.

Nhớ lời Trời, Hổ cho đóng một cái hòm gỗ có khóa để cất ấn tín.

Trong rừng, chàng Mèo có tham vọng làm chúa sơn lâm tranh lấy quyền lực của Hổ. Ngày đêm Mèo nghĩ cách trộm cướp ấn tín trong hòm gỗ của Hổ. Nghĩ mãi Mèo mới biết chỉ có Chuột trời cho bộ răng đục khoét hòm gỗ giỏi thì lấy được ấn tín. Thế là Mèo bắt Chuột. Chuột kêu chít chít van lạy :

-Mèo hãy tha mạng cho tôi! Tôi sẽ đền ơn cho Mèo con chim nhỏ làm bữa!

-Meo hừ !Tao không cần con chim nhỏ. Cái tao cần mày đục cái hòm của Hổ lấy ra cho tao ấn tín để tao làm vua rừng. Dưới triều đại của Mèo loài chuột của mày được hoàn toàn giải phóng không bị Mèo vồ, Rắn đớp, Cú bắt. Chuột được tự do làm chủ vận mệnh.

Chuột nghe bùi tai quá chít chít reo lên:

-Đức vua Mèo đại nghĩa muôn năm!

Nhân lúc Hổ đi tuần rừng, Mèo dẫn Chuột vào hang Hổ chỉ cái hòm cho Chuột khoét lấy ấn tín. Chuột khoét cồn cột một lát thì có lỗ thủng cho Mèo thò tay vào khua khoắng lấy được ấn tín ra. Đúng là ấn tín bằng vàng sáng chóe. Được ấn tín rồi, Mèo làm lễ đăng quang lên ngôi vua rừng, tuyên bố triều đại Hổ đã hết, triều đại Mèo thành lập !

Voi, Trâu, Bò, Ngựa, Dê, Hươu, Hoẵng, Nai… không tin thì Mèo dâng ấn tín trời ban cho cả rừng xem. Lúc bấy giờ muôn vật trong rừng mới thừa nhận Mèo làm vua. Hổ mất ấn tín nên mất quyền lực đành ngậm bồ hòn làm ngọt, hận thù Mèo tuyên bố :

-Bắt được Mèo, ông ăn cả cứt!

Mèo làm vua nhưng vẫn sợ uy vũ của Hổ, từ ấy mỗi lần đi ngoài phải giấu phân trong đống tro đống cát. Hổ rình săn bắt Mèo nhiều lần hòng lấy lại ấn tín nhưng Mèo có võ trèo lên cây nên thoát nạn.

Mèo làm vua rồi nhưng Voi Trâu, Bò Ngựa, Dê Hươu, Hoẵng Nai… không cống nạp. Gà rừng thì giơ cựa chực đá Mèo. Chim nhỏ bay, Mèo chẳng vồ được. Trời cho Mèo cai trị Chuột ăn Chuột thì đã trả ơn cho Chuột tự do làm chủ vận mệnh, thế là há miệng mắc quai, thành ra Mèo lâm nạn nghèo đói gầy mòn dần. Quyền lực làm vua rừng của Mèo trở thành cái danh hão. Mèo để Chuột bạo ngược đục khoét gặm nhấm rừng vô tội vạ. Trần gian sinh ra loạn Chuột.

Nay Trời phê bình Mèo mai Trời cảnh cáo Mèo vô trách nhiệm không nghiêm trị Chuột. Thế là vua Mèo quay ra phản bội Chuột nuốt lời hứa trước đây, bắt Chuột cống nạp thịt để làm bữa sáng trưa chiều. Chuột một thời mở miệng là nói ” Nhờ ơn Mèo!” giờ thì tiếp tục ngàn xưa đêm đêm rúc vang: “Chít chít! Đả đảo Mèo! Tên đại lưu manh tiếm quyền Hổ!”.

Vua Mèo vốn là vua lười, ngủ 2/3 ngày, việc triều chính chẳng ngó ngàng, ngủ dậy chỉ kêu “meo nghèo!”. Chuột thù Mèo nhưng để sống còn không thể đối đầu, buộc phải dùng phép ngoại giao chuột đi đêm, một mặt cử phái đoàn thổi kèn rước chim cá cống Mèo, một mặt độc lập tự chủ, vinh qui bái tổ, cờ biển rợp trời, anh cưỡi ngựa trước, kiệu hồng hai họ rước nàng đi sau, chuột nào chuột ấy mặt mũi râu đuôi vênh vang trước thiên hạ rằng ta sành nghề ăn trộm đục khoét 20 % trữ lượng lương thực toàn cầu.

Lò Cẩm Tú kể – Ghi ở Mường Lò 1980.

Sự tích suối đá cuội và chim Lộc ít ở núi Phiêng Cại

Ngày xưa ở núi Phiêng Cại nay thuộc xã Phong Dụ huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái có dòng suối trong xanh hút mắt cho nên còn gọi là suối Hút. Đáy suối lấp lánh cát vàng. Muôn loài cá bơi lội tung tăng. Loài cá nào cũng vui đùa với người tắm suối. Người ta bắt cá bằng tay ngắm nghía rồi lại thả ra. Con cá múa đuôi mơn trớn quấn quít bên thân người nhất là trẻ chăn trâu và những cô gái xinh đẹp da trắng ngần tắm suối lúc chiều hôm.

Trong bản Gốc Lụ có chàng người Thái mồ côi ở một mình tên là Lò Văn Ưng cởi trần lội suối bắt cá về ăn và bán lấy tiền mua gạo sinh sống. Chàng quá nghèo, quần áo không có mặc, chỉ đi bắt cá suối ban đêm để nhờ bóng tối làm vải che thân. Đã tuổi băm vẫn chưa có tiền lấy vợ, song chàng vẫn hy vọng sẽ gặp một nàng Tiên như trong cổ tích kết duyên với chàng mồ côi.

Vào những đêm trăng sáng, chàng đang bắt cá dưới suối Hút lai láng ánh vàng thì thấy một người con gái mặc áo cỏm, đội khăn piêu, dáng thon thả là là bay từ đỉnh núi Phiêng Cại xuống suối tắm ở bến Gốc Lụ. Cô gái cởi váy áo khăn piêu để trên bờ, thả thân ngọc mình ngà tuyệt mĩ xuống dòng nước mát. Chàng nép vào bờ cỏ rình xem cô gái tắm mà thầm kêu lên: ” Ôi ! Không phải tiên trên trời thì là con gái Sơn Thần Phiêng Cại xinh đẹp biết bao ! Nếu biết tôi là chàng mồ côi thì nàng có yêu tôi không? Còn tôi như nàng hút mất hồn rồi nàng ơi!” Cô gái tắm xong mặc váy áo đội khăn piêu là là bay lên đỉnh núi lung linh ánh trăng.

Sau nhiều đêm rình trộm xem cô gái tắm, nỗi khao khát của con tim đã thúc giục chàng quyết định tiếp cận với cô gái nói lời tỏ tình may ra thì thành duyên. Thế là chàng đến trước giờ nàng xuống tắm, vùi thân ở bờ cát bến Gốc Lụ. Trăng vừa lên được một cây sào. Mặt suối lăn tăn ánh vàng thì nàng bay là là xuống tắm như mọi lần. Nàng bơi lội chơi đùa với cá suối khỏa sóng lên bờ vỗ oàm oạp khiến cát trôi dần dần hở ra toàn thân chàng Lò Văn Ưng. Nàng trông thấy chàng trai lõa thể đang ngồi dậy nói:

Tức thì nàng hoảng hốt ù té chạy lên bờ, không kịp lấy váy áo, bay vút lên đỉnh núi Phiêng Cại. Quay lại nàng thấy chàng trai đuổi theo vẫn gọi với :

Nhưng nàng nghe không rõ, tưởng là chàng trai săn bắt nàng. Từ trên đỉnh núi Phiêng Cại nàng tung đá xuống suối Hút như mưa rơi ầm ầm tung tóe sóng lấp lánh ánh trăng vàng và lộp bộp rơi xung quanh chàng suýt nữa thì vỡ đầu khiến chàng phải nấp vào gốc lụ.

Dân các bản đôi bờ suối Hút dưới chân núi Phiêng Cại thấy từ tay cô gái cởi trần ném đá núi vù vù xuống mặt suối và ruộng bãi tưởng là ma quỷ tấn công hại người hại vật liền gõ trống khua chiêng và bắn súng kíp ùng oàng xua đuổi cho đến khi mặt trăng lặn , mặt trời lên , không thấy đá rơi nữa mới thôi.

Dân bản kéo nhau ra bờ suối Hút nhìn xuống dòng xanh hôm qua cát vàng giờ đây chất chồng đá cuội tròn như trái cây quả trứng làm cho nước suối đầy lên khác thường. Trên bãi bờ cũng rơi vô vàn đá cuội. Thấy chàng Lò Văn Ưng co ro trong mấy tàu lá dong che thân ở gốc lụ, già bản hỏi:

-Đêm qua bắt cá, cháu có biết chuyện gì sẩy ra không?

Chàng ấp úng vẻ ân hận thưa:

-Dạ… Cháu có biết… và do cháu đã gây ra ạ!…Cháu xin lỗi bà con đã lo sợ mất giấc ngủ ngon…

Chàng kể lại đầu đuôi câu chuyện tình yêu đơn phương của mình đã làm cho Thần nữ núi Phiêng Cại hiểu lầm đã tức giận ném đá núi cản bước người rượt theo nàng bắt nàng

Già bản sợ Thần nữ còn giận gây hại cho bản bèn sắm lễ vật lên núi Phiêng Cại cúng, nói rõ việc chàng mồ côi Lò Văn Ưng muốn bộc lộ tình yêu Nữ thần chứ không phải là săn bắt Nữ thần, xin được lượng thứ.

Hiểu ra vấn đề lương thiện không phải ác ý của chàng trai nghèo, Thần nữ núi Phiêng Cại hiện lên nói :

-Ta cảm ơn mối tình yêu ta của chàng trai mồ côi! Nhưng chàng là người dương ta là người âm, âm dương cách biệt, không thể kết duyên được. Ta sẽ phù hộ cho chàng có đời sống cao hơn để lấy được vợ trần gian.

Nói rồi Nữ thần biến mất.

Nữ thần núi Phiêng Cại xin cha là Sơn Thần Âu Lạc cho một gánh muối rắc xuống thung lũng đôi bờ suối Hút có những khe mạch chảy róc rách ngày đêm để dụ đàn chim Lộc ít bay về uống nước pha muối. Chàng mồ côi Lò Văn Ưng bỗng nhiên thôi nghề bắt cá suối, chuyển sang nghề nông, phát nương rẫy trồng lúa bắp, và bẫy bắt chim Lộc ít làm canh ăn và xách lồng ra chợ bán, trở nên giầu có, làm được nhà cửa, ăn mặc tử tế và lấy được người vợ vừa đẹp vừa đảm nhất bản Gốc Lụ.

Từ ấy suối Hút trở thành suối đá cuội và chim Lộc ít bay về rợp núi Phiêng Cại.

Lò Ngọc Sinh kể- Ghi ở Trường cấp III Văn Yên 1976

Sự tích cây hoa ban và cây vầu măng đắng

Ngày xưa ở bản Thái nọ nhà Tạo Lò Lạng sinh được cô gái tuyệt đẹp, da trắng như trứng gà bóc, mắt sáng như ngôi sao chiều trên núi, tóc mượt như suối, hát khắp hay, đánh đàn tính tẩu du dương trầm bổng, khiến chim đang bay phải dừng cánh đậu cành cây lắng nghe, cá bơi dưới suối cũng phải ngừng vây thưởng thức, đôi bàn tay búp măng dệt thổ cẩm thêu khăn phiêu và hàng bướm áo cỏm ai cũng mê nhìn. Tạo Lò Lạng cho rằng mình có phúc nên được Then ban cho công nương hoa hậu để kén một chàng rể là thủ lĩnh quân sự tài ba bảo vệ mường. Tạo Lò Lạng đặt tên cho con gái cưng của mình là Ban Nương.

Cách nhà Tạo Lò Lạng không xa, người làm cuông họ Lường sinh được một chàng trai khôi ngô tuấn tú , mắt sáng như đèn, cưỡi ngựa bắn cung giỏi không trai nào sánh kịp, cày trâu cày voi thực tài. Khi còn nhỏ rất bụ bẫm kháu khỉnh, sợ con ma bắt, cha mẹ đặt cho cậu bé cái tên là Khôm ( Đắng). Ma ưa của ngọt chê đắng mà bỏ qua.

Lớn lên Ban Nương và chàng Khôm gặp nhau trên sân hoa hạn khuống trong ngày hội lồng tồng, mê nhau về sắc quí nhau về tài, hai người mượn câu hát khắp báo sao tỏ tình, tâm đồng ý hợp hát tối ngày không rời nhau. Từ hôm ấy hai người yêu nhau say đắm, ngày nào cũng phi ngựa lên núi Pú Chạng tâm tình thề non nguyền nước, trăm năm sống chết có nhau.

Tạo Lò Lạng biết con gái cưng không yêu một vị tướng soái quân đội của mình mà phải lòng một tên mọi con nhà cuông nghèo hèn cùng đinh xã hội thì còn môn đăng hộ đối cái con khỉ gì nữa. Tạo tức phát điên, sai quân đội mường Lò bắt hai người trên núi Pú Chạng về nhà để hành tội dám ngang cành bứa luyến ái tự do. Tạo Lò Lạng định nhốt con gái vào buồng cấm cung dạy cho bài học tình yêu có đẳng cấp đăng đối trong xã hội Thái đúng như câu trai anh hùng gái thuyền quyên mới xứng sánh đôi chim phượng và rồng vàng. Còn thằng mọi con cuông mạt hạng đũa mốc dám chòi mâm son đánh cho một trăm gậy chết thì quăng sông Thia cho hết đời cái giống phong tình lãng mạn hão huyền xưa nay.

Con chim co ke biết được âm mưu của Tạo Lò Lạng phá duyên uyên ương của đôi trai gái đã bay lên trước toán lính báo cho Ban Nương và chàng Khôm trên núi Pú Chạng biết mà chạy trốn đi. Thế là hai người phi ngựa lên Mù Căng Chải, vượt Khau Phạ, qua Mường Chiến, sang sông Đà, đèo Pha Đin, đến Mường Then. Toán lính Mường Lò vẫn đuổi gấp phía sau. Đến bờ vực, hai người xuống ngựa, để không bị bắt, đã xiết chặt tay nhau nhảy xuống lũng đất sâu mà quên sinh để về Then sống bên nhau vĩnh hằng.

Đàn mối đắp cho đôi trai tài gái sắc tự do yêu đương một nấm mồ. Chẳng bao lâu từ nấm mồ chung ấy mọc lên hai cây. Một cây thân đốt họ trúc lá xanh mọc dưới gốc cây măng có vị đắng, người Thái gọi là Nó Khôm (Cây Vầu Đắng); một cây cành lá xum xuê có lá xanh hai nửa hình tim ghép lại, cuối đông cây trút lá vàng rồi nở hoa trắng muốt chào xuân sang, người Thái gọi là cây Bióoc Ban (Hoa Ban).

Từ ấy hai cây Nó Khôm và Bióoc Ban mọc khắp núi rừng Tây Bắc trở thành biểu tượng của tình yêu lứa đôi tự do chung thủy. Người ta lấy măng đắng ngâm với hoa ban làm món ăn đặc sản của Tây Bắc có vị chua ngọt dễ chịu. Ai ăn cũng trầm trồ nói :

-Đó là hiển linh của mối tình thủy chung chàng Khôm với nàng Ban ngàn xưa. Ý vị của nó nhắc nhở người Thái không bao giờ quên và lặp lại bi kịch tình yêu như họ. Trai gái trong ngày cưới ăn món ấy để duyên tình chua ngọt có nhau trọn vẹn một đời người.

Cầm Vân kể – Ghi ở Trường TNDT Lũng Mu 1980.

Cây hoa ban cho sự sống và tình yêu

Nhưng cậu lại yêu cô gái con một gia đình nghèo rớt mùng tơi ở bản Hồng Cúm. Cô gái này đẹp người đẹp nết nhất bản. Mặt nàng trăng đêm mười sáu, da trắng nõn nà cổ cao như bông huệ. Nàng giỏi cấy lúa ruộng , nuôi lợn gà, dệt thổ cẩm. Nàng cũng yêu cậu nhưng nói :

-Cha mẹ anh không ưng cho anh lấy em đâu bởi vì nhà anh có quyền chức giầu sang, còn nhà em nông dân nghèo khó bậc cùng đinh xã hội.

-Đúng là cha mẹ anh có tư tưởng đẳng cấp môn đăng hộ đối trong hôn nhân gia đình và ép anh lấy một cô gái mà anh không yêu con nhà tạo Mường Tè. Anh quyết không theo quan điểm lỗi thời lạc hậu đó của cha mẹ anh. Là trang nam nhi Thái của thời đại mới việc trăm năm của mình phải biết tự quyết lấy không thể để cha mẹ áp đặt mà bất hạnh một đời. Anh đã lựa chọn em làm vợ chứ đâu chọn cái quyền chức cái kinh tế giầu có làm vợ. Quyền chức và giầu của là do đức độ tài năng của con người có uy tín với dân với nước mà có chứ đâu phải do ái tình mang lại. Với anh tình yêu là ở hai con tim đập chung một nhịp sống trên cõi trần ban cho nhau hạnh phúc ái ân sinh con khôn, bằng trí tuệ và sức lao động vợ chồng làm nên tất cả nhu cầu sinh hoạt của gia đình. Anh chỉ muốn có cuộc sống đời thường gia đình hạnh phúc hơn là có cái chức tạo mường mà vợ chồng thì ông chẳng bà chuộc chẳng phải người. Nếu cha mẹ anh ngăn cấm cuộc tình của chúng ta thì anh cùng em bỏ trốn tìm nơi đất tốt khai phá lập mường tạo bản lo chi. Khi nào song thân hết giận thì chúng ta mang con cháu về trình diện có sao đâu!

Thế là hai người yêu nhau tự do tự lập.

Nghe tin con trai đã lấy vợ ở bản Hồng Cúm, Tạo Mường Then quát tháo ầm ĩ:

-Con nữ yêu quái nào mà dám lấy con trai nhà tạo làm chồng? Con trai ta có ăn học mà mê muội trước nữ yêu quái ư ? Lính đâu bắt ngay chúng nó về nhà để ta trị tội.

Tiếng lính dạ ran. Tiếng ngựa hí, tiếng vó ngựa lộc cộc, rầm rập lên đường. Bụi cát vung mù mịt. Người bạn của chàng trai biết tin đã phóng ngựa đi trước báo cho hai người chạy trốn. Họ dắt nhau chạy vào rừng sâu, không mang theo được thứ gì. Tới ngã năm đường họ rẽ vào một lối cụt rồi lội suối vượt rừng đi mãi đi mãi. Họ đi đến đâu cỏ cây mọc chi chít rất nhanh dào lối đến đấy. Lính Tạo Mường Then đi vào đường cụt rồi lại quay ra chia thành bốn toán đi bốn ngả truy lùng.

Hai người yêu nhau đi hết ngày này đến ngày khác, đói, mệt, cùng ngã gục dưới một gốc cây cành lá xum xuê rồi tắt thở. Cây có hàng nghìn mắt lá hình hai nửa trái tim ghép lại tiếc thương đôi trẻ yêu nhau chết đói mà sầu úa vàng. Một làn gió qua rụng sạch trơ cành khẳng khiu. Những cành to cành nhỏ lao xao giục nhau:

-Nhanh lên các bạn! Hãy trổ thật nhiều hoa trắng muốt thơm để cứu hai người!

Thế là cây bừng nở ngàn hoa chín tới rụng xuống miệng hai người. Họ máy môi ăn thấy bùi thơm ngọt mát dần dần tỉnh dậy. Hai người vui mừng khôn xiết ôm lấy gốc cây thổn thức nói :

-Ôi cây thơm thảo nhân ái vô cùng! Cảm ơn cây đã ban cho chúng tôi sự sống. Chưa biết tên cây là gì? Hãy cho hai vợ chồng tôi được phép gọi là cây hoa ban cho con người sự sống và tình yêu được không ạ!

Cây hoa trắng muốt thơm ngọt mát rì rào nói:

-Được! Nên gọi ngắn gọn là cây hoa ban !

Hai người ăn hoa ban sự sống và tình yêu khỏe ra. Khi ấy xuân về măng mọc đầy rừng. Họ hái măng tìm đường đến bản mường bán lấy tiền sắm rìu dựa, mang về phát cây, làm nhà ở, chồng làm nương làm rẫy, vợ xe sợi dệt thổ cẩm. Chẳng bao lâu họ có một gia đình sung túc ấm cúng hạnh phúc, sinh được hai con một gái một trai mập như hai cây măng rừng. Đêm đêm họ đánh đàn tính tẩu hát khắp báo sao khiến cả rừng suối lặng yên lắng nghe những lời ca trữ tình mà họ sáng tác. Chồng cất giọng trầm ấm : “Đôi ta yêu nhau không tính mùa ban nở / Không thấy ngày ban tàn / Mãi mãi như mùa ban đầu , ta yêu nhau.” Vợ cất giọng cao trong trẻo: ” Hoa ban nở khi xuân về. Tình ta đẹp như hoa ban. Hỡi người ta yêu…” Hai đứa trẻ cũng bập bẹ hát theo: ” Hoa… ban…tình…yêu…”

Hai vợ chồng họ tự do yêu đương và hôn nhân sống trọn tình trọn nghĩa trăm năm. Khi về trời người chồng được đầu thai kiếp khác là cánh chim én. Người vợ được đầu thai là cây hoa ban trắng mọc khắp rừng Tây Bắc. Mỗi đầu năm mới đàn én chiu chít bay về thì rừng ban đua nở hoa trắng đón mừng nhau tưng bừng xuân.

Cầm Vân kể- Ghi ở Trường TNDT Lũng Mu 1980.

Sự tích cây hoa ban và Lễ hội Hoa Ban

Bản kia có cô gái tên là Ban. Nàng xinh đẹp nhất mường. Da trắng như nõn chuối rừng. Tóc dài mượt như suối. Mỗi bước nàng đi yểu điệu khiến muôn vật nín thở ngắm nhìn theo. Không biết bao chàng trai mường trên bản dưới rậm rịch đến chân quản chân thang chọc sàn để tỏ tình. Nhưng chưa có một chàng trai nào lọt vào mắt đen lay láy của nàng.

Trong bản có chàng Khun mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa, sống trong một túp lều cỏ chè vè. Ngày ngày chàng vào rừng đốn củi bán lấy tiền mua gạo nuôi thân. Chàng chăm chỉ như con dúi con don cặm cụi làm việc suốt ngày. Chàng giỏi săn bắn khiến đàn thú bỏ nương rẫy của bản chạy vào rừng sâu. Đôi tay chàng còn khéo đan lát, làm mộc, đóng khung dệt vải, làm nhà sàn mái rùa có khau cút. Bà con bản có công to việc lớn chàng đều đến làm giúp. Già trẻ ai nấy đều yêu quý chàng.

Chàng thầm yêu trộm nhớ nàng Ban đã lâu mà chưa dám ngỏ tình. Nàng Ban vẫn thầm mong bà mờ đến hỏi nàng cho chàng. Con tim thúc giục đến chọc sàn, chàng đã được nàng Ban tiếp đón tâm tình thề non hẹn núi đã mấy tuần trăng. Nhưng chàng quá nghèo chưa có đủ một đồng bạc trắng để hỏi vợ.

Rồi một hôm cha mẹ nàng Ban gả nàng cho quan tạo mường giầu sang phú quí. Nàng chạy đến nhà chàng Khun thì chàng đi săn trong rừng vắng. Nàng quay về đã thấy nhà tạo mang lễ vật cưới lợn dê rượu gạo đến nhà. Nàng vội vàng vắt chiếc khăn piêu làm ám hiệu trên dây phơi rồi trốn vào rừng sâu. Nàng đi , đi mãi, vừa đi vừa khóc gọi chàng Khun, nhưng không một tiếng đáp lời. Cuối cùng nàng kiệt sức nằm xuống dưới chân một quả đồi. Đàn mối đắp cho nàng một nấm mồ. Chẳng bao lâu từ nấm mồ nàng Ban mọc lên một cây hoa trắng muốt đẹp đến nao lòng. Lá xanh hình hai nửa trái tim ghép lại. Nhân dân trong vùng cho rằng cây hoa ấy là linh hồn nàng Ban hóa thành và gọi tên là cây Hoa Ban.

Lại nói chàng Khun mãi chiều tối mới đi săn về. Nhìn lên dây phơi nhà nàng Ban thấy chiếc khăn piêu báo hiệu sự chẳng lành. Theo dấu chân nàng Ban, chàng vào rừng sâu, hú gọi tìm nàng. Nhưng chỉ có tiếng hú của chàng vọng lại. Chàng đi khắp vùng Tây Bắc chẳng thấy nàng Ban, quay trở về Mường Lò dừng chân ở Thẩm Lé thì bỗng nghe tiếng nàng Ban than thở theo gió luồn hang đưa tới. Chàng quẩn quanh đi lại lắng nghe tiếng nàng cho đến lúc không còn sức gục xuống tắt thở. Chẳng bao lâu mỗi vết chân chàng đi tìm nàng Ban trong vùng Tây Bắc và quanh hang Thẩm Lé mọc lên một cây Hoa Ban trắng muốt. Ngày nay rừng ban ở Thẩm Lé vẫn xanh tươi mỗi xuân về hoa nở trắng một vùng.

Từ ấy người Thái Tây Bắc tôn vinh hoa ban là hiện thân của tình yêu chung thủy. Ngày xuân hàng năm Mường Lò mở hội Hoa Ban ở Thẩm Lé để tưởng nhớ mối tình của nàng Ban và chàng Khun sống còn mãi mãi trong lòng người với rừng Ban trắng nơi đây.

Cầm Vân kể – Ghi ở Trường TNDT Lũng Mu 1980.

Ngày ấy ở bản nọ có ông Bạc Cầm Ành biết làm ăn nên rất giầu có. Nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con khôn, ruộng cả ao sâu, trâu bò ngựa lợn dê đàn đàn lũ lũ. Của chìm của nổi vào bậc nhất mường đến nhà tạo cũng không bằng.

Trong khi đó người bạn đồng niên với Bạc Cầm Ành là Lò Văn Pàn nghèo rớt mùng tơi do của cải lần lượt chui qua cái dọc tẩu theo khói bay hết. Thói đời ghen ăn ghét ở, chân mình đã nhúng chàm thì cũng lôi người khác dẫm vào, Lò Văn Pàn muốn bạn mình cũng vào hội hút khói xanh thơm.

Một hôm Lò Văn Pàn cầm bàn đèn dọc tẩu đến nhà Bạc Cầm Ành mời hút. Bạc Cầm Ành nói :

-Ồ ! Tí thuốc nhựa anh túc chỉ bé bằng con rận thôi mà nó ăn hết giang sơn điền sản đấy. Nó nuốt chửng trâu bò ngựa lợn dê như chơi! Ông đã hút nó thì cứ phải hút thôi! Còn ta đã không hút là không bao giờ hút!

-Ông nên hút thử một điếu để biết mùi đời thế nào là khoan khoái đê mê lạc thú của kiếp người. Không nghiện như tôi đâu sợ gì ! Người ta còn nuốt thuốc phiện để khỏi đau bụng đi ngoài đấy, chẳng sao đâu. Một điếu thôi, gọi là như miếng trầu, nhúm thuốc lào, chén nước chà mời nhau đầu câu chuyện ấy mà!

Bạc Cầm Ành nể bạn, tặc lưỡi một cái, liền cầm dọc tẩu rít một hơi nhả khói xanh thơm ngon đáo để, cảm giác lâng lâng ngây ngất như phút tột đỉnh của cuộc truy hoan nam nữ buổi xuân thì.

Thấy bạn đờ ra hưởng khoái lạc, Lò Văn Pàn thầm reo lên :

-Cá sỉnh đã cắn câu rồi! Then ơi!

Đúng qui luật hút một rồi muốn hút hai, hút hai rồi muốn hút ba, như chiều nay no xôi nếp, sáng mai lại thèm, Bạc Cầm Ành trở thành một con nghiện lúc nào không biết. Thoạt đầu trâu bò ngựa lợn dê chui qua cái dọc tẩu đi trước, tiếp theo là ruộng mật điền , ao sâu cá mè, nhà cửa và cuối cùng là vợ con từ bỏ Bạc Cầm Ành. Từ bạn đồng niên ông trở thành bạn nghiện chí cốt của Lò Văn Pàn.

Có người trả nợ cho ông một khoản tiền vay. Ông bỏ bản vào rừng làm cái lều cỏ và mua thuốc phiện xoa dịu cơn nghiện. Đêm đêm ông hút phả khói thơm bay ra rừng hoang. Một con hổ trong rừng hít phải thành nghiện, tối nào cũng tìm về ngồi sau cái lều cỏ ngửi khói thuốc tỏa lan theo gió. Ngồi trong cửa sổ ông trông thấy con hổ hiền lành coi là bạn nghiện với mình. Bữa nào hết thuốc, không thấy hổ đến ông buồn lắm, nhất là sau khi người bạn nghiện chí cốt Lò Văn Pàn thiếu thuốc lên cơn nghiện tử vong. Hôm ấy ông nói với con hổ :

-Bạn hổ nghiện của tôi ơi! Mai mình hết tiền hết thuốc rồi! Bạn có thể giúp mình có tiền để có thuốc hút không?

Con Hổ nhìn đôi mắt sâu hoắm lờ đờ của ông một hồi lâu rồi gật đầu.

Sáng hôm sau ngủ dậy, ông thấy một con lợn rừng chừng hai người khiêng bị cắn cổ chết nằm ở chỗ hổ quen ngồi. Ông liền nấu nước cạo lông rồi thui con lợn xả thịt mang xuống bản bán lấy tiền mua thuốc hút, còn để lại vài cân nướng chả, đêm ấy mời hổ đánh chén và ngửi khói nhựa anh túc. Vậy là sau đó hôm thì hổ mang đến con hoãng, hôm thì con hươu, con nai hay con sơn dương. Đến một hôm con hổ mang đến con lợn nhà chừng một tạ thì ông phát lo, ông nghĩ: ” Phải bảo ông bạn hổ nghiện thôi! Không được bắt lợn trâu bò của bản. Nếu ông bắt thì sẽ bị người bản gài bẫy hoặc bắn chết. Ông hổ mà chết thì mình không thịt rừng bán, không tiền, không thuốc hút cũng chết theo!”

Nhưng đêm ấy đã quá giờ hút rồi mà ông hổ vẫn không thấy về sau lều. Bạc Cầm Ành chu lên khóc :

-Bạn hổ nghiện của tôi ơi! Mình chưa kịp bảo bạn thì bạn đã sa bẫy hay bị trúng đạn của người bản mất rồi! Hu hu hu…

Cho đến đêm sau , đêm sau nữa không thấy hổ về, Bạc Cầm Ành hoàn toàn tuyệt vọng, cũng là lúc ông hết thuốc, lên cơn nghiện nặng, ông qua đời. Cái miệng ông méo xệch méo xạc, xùi bọt mép, tay nắm chặt cái dọc tẩu bên bàn đèn cạn dầu bấc tắt…

Cầm Ngọc Tú kể – Ghi ở Mường Lò 1980

Ngày xưa ở bản kia có hai anh em mồ côi ở với nhau chung một gia tài của cha mẹ để lại không thiếu thứ gì. Nào là nhà cao cửa rộng. Nào là kho thóc kho ngô đầy ắp. Nào là chuồng trâu chuồng bò chuồng ngựa hàng chục con. Ruộng nương hạng mật điền hàng chục mẫu.

Lúc thiếu thời hai anh em còn thương nhau. Đến khi người anh lấy vợ thì sinh thói tham lam chiếm toàn bộ gia tài bằng cách làm di chúc giả của cha mẹ ban cho con trưởng để lo việc thờ cúng hương hỏa.

Người em tay trắng ra ở riêng không được anh trai cho thứ gì . Người em vào rừng phát cây đốt nương trồng lúa bắp, làm cái lều ở tạm.

Một hôm qua suối lũ thấy một cây chuối nhỏ trôi, chàng mang về trồng cạnh lều. Hàng ngày chàng chăm sóc nương rẫy không quên bón phân, đắp đất màu mỡ vào gốc và tưới nước cho cây chuối. Một năm qua cây chuối tốt tươi mỗi lá như cánh phản che nắng che mưa rồi trổ bắp đỏ tươi, sinh ra một buồng lớn dài bằng cái đòn gánh, mười lăm nải lớp lớp những quả chuối mập mạp. Đến một hôm buồng chuối lừng hương thơm chín vàng. Chàng định bẻ quả ăn thì không bẻ được. Chuối chín không rụng. Chàng lấy dao cắt không xong , xem kỹ thì thấy buồng chuối bằng vàng, mỗi quả là một thỏi vàng. Có vàng vàng chẳng hay phô. Chàng ngả cây chuối, giấu buồng chuối vàng vào trong đống củi, chặt từng quả đem bán lấy tiền, thuê người phát hoang cánh rừng, mở rộng ruộng nương, san gạt đồi gò làm nền nhà, vườn cây, ao cá, mua gỗ tứ thiết , thuê thợ làm nhà sàn mười gian bốn mái rùa hai khau cút, hai cầu thang, lát sàn, cửa chính cửa sổ trạm trổ rồng phượng lộng lẫy đẹp nhất mường và lấy một cô gái áo cỏm khăn piêu xinh đẹp tài hoa, dệt thổ cẩm giỏi không ai bằng làm vợ hạnh phúc trăm năm. Buồng chuối vàng làm vốn đầu tư trồng trọt chăn nuôi trở thành tỷ phú chín châu mười mường. Hàng chục nhà kho đầy lúa bắp. Nào là lúa nếp hương nuôi ngưòi. Nào là kho gạo lợn . Nào là kho thóc gà, trâu, bò, ngựa. Đại gia súc nuôi hàng ngàn con. Trâu bò khua mõ, nhạc chuông ngựa vang rộn cả núi rừng. Nhà khung cửi thoi đưa nhịp nhàng, kho thổ cẩm đầy lên tận nóc. Gia nông gia binh người ăn kẻ làm tấp nập. Những đêm trăng sáng, tiếng đàn tính tẩu, tiếng sáo pí pặp, tiếng khắp báo sao vui như hội lồng tồng. Vợ chồng chàng làm ông bầu mở trường học dạy chữ Thái, mở trạm xá chữa bệnh miễn phí cho dân.

Năm ấy trời hết đại hạn đến đại lụt, thiên hạ mất mùa, nạn đói hoành hành. Riêng ruộng nương của chàng nhờ hệ thống tiêu tưới nên được mùa. Vợ chồng chàng bán gạo cứu đói cho kẻ giầu, phát chẩn cho người nghèo.

Giặc đói Cờ Vàng phương Bắc tràn sang, để thực túc binh cường, vợ chồng chàng cấp gạo trâu bò ngựa cho quân đội triều đình và gia binh đánh giặc tan.

Vợ chồng người anh hưởng thụ gia tài cha mẹ để lại dần dần cũng hết, nay mất mùa , đói khổ, nghe tin có nhà giầu phát chẩn bần, liền mang dậu tìm đến xin. Chàng nhận ra anh và chị dâu gầy đen như quỉ đói. Anh chị cũng nhận ra chủ nhà phát chẩn chính là em mình, lúc đầu hơi ngượng ngùng sau vồn vã cầu cạnh. Vợ chồng người em rước vào nhà sàn mười gian mở tiệc chiêu đãi rượu thịt lu bù, đến nhà tạo mường cũng không bằng. Người em cho cả gạo lẫn ngựa thồ và biếu một nải chuối bằng vàng mang về lấy vốn làm ăn. Tuy nhiên vợ chồng người anh chưa vui lắm, cứ nằn nì hỏi em có bí quyết gì mà trở nên giầu sang phú quí. Người em thật thà kể lại đầu đuôi câu chuyện trồng cây chuối cho buồng chuối vàng nên mới được như vậy.

Vợ chồng người anh nhận quà của người em ra về đủ sung sướng một đời nhưng lại muốn giầu hơn nữa, liền dắt nhau vào rừng phát nương làm lều và ra suối lũ xem có cây chuối trôi để vớt về trồng. Lũ ống lũ quét tràn về. Một cây chuối nhỏ trôi tới, hai vợ chòng ùa ra vớt, thì dòng nước xiết cuốn đi, suýt mất mạng, may mà ôm được bụi chuối trôi dạt vào bờ. Song cũng lấy được cây chuối nhỏ về trồng ở lều. Ngày giả vờ ra lều ở trông cây, đêm lại về nhà ấm cúng hú hý với nhau. Đến khi cây chuối trổ buồng chín vàng, hai vợ chồng hý hửng ngả cây chặt buồng thì chẳng thấy chuối bằng vàng mà là buồng chuối rừng quả nào cũng đầy hạt không ăn được, cho khỉ chuột cũng không màng. Hai vợ chồng tức giận chửi Then không phù hộ, tức thì giữa trời quang mây tạnh, một tiếng sét long trời, Thiên Lôi bổ một nhát búa vào đầu hai vợ chồng thế là chết cháy đen nửa người.

Cầm Ngọc Tú kể – Ghi ở Mường Lò 1980.

Sự tích con cò rình bắt cá bên dòng nước chảy

Bản kia bên bờ sông Đà nước chảy êm đềm. Nhà tạo bản có người con trai tên là Lường Khằm, chỉ biết ăn chơi, không biết làm gì. Hai vợ chồng hưởng thụ gia tài của cha mẹ để lại được vài năm thì hết. Vợ còng lưng làm thuê cuốc mướn nuôi chồng.

Nhiều lúc túng bấn vợ trì triết nói:

-Người đàn bà xưa nay lấy chồng nhờ chồng. Yếu trâu hơn khỏe bò. Đàn ông bao giờ cũng là nòng cốt kinh tế gia đình. Nay chàng không làm gì, sáng chiều ra bến sông hóng mát, đói bụng đã có vợ kiếm cho ăn. Thế thì bao giờ có tiền làm nhà, tạu ruộng nương, trâu bò ngựa, nuôi con học hành! Tôi mà ốm đau thì chết đói cả nhà!

Lường Khằm lấy chịch ông chồng gia trưởng nói :

-Thôi đi! Đây chẳng nòng cốt kinh tế chứ còn ai nữa! Sáng chiều hóng mát bờ sông không phải chơi đâu. Tôi chờ cơ may làm ăn lớn đó. Đợi đấy sẽ biết tay tôi!

Nói rồi chàng lại ra bờ sông chắp tay sau mông trông trời nước ban mai một sắc trong veo. Trưa về ăn cơm nằm ngủ. Chiều lại ra ngắm sông nước hoàng hôn lững lờ trôi ánh vàng. Rồi tắm mát về ăn bữa tối và đi ngủ. Một trăm ngày thì cả một trăm linh một như vậy. Vợ cằn nhằn mỏi miệng cũng chẳng lay chuyển được chồng. Cuối cùng đành buông xuôi. Cảnh nghèo lúc đầu còn ăn cơm, sau ăn cháo, sau nữa ăn củ mài củ nâu.

Bỗng một chiều có cái bè gỗ của khách sơn tràng neo tại bến. Lương Khằm xuống bè hỏi:

-Các ông có những thứ gỗ gì ?

-Đinh lim xến táu tứ thiết đấy! Mua gỗ cả bè chúng tôi bán hạ cho một hai giá!

Lương Khằm dẫn khách sơn tràng về nhà bảo vợ vay gạo rượu gà làm cỗ đãi bạn làm ăn. Cỗ bưng lên sàn, rượu vào lời ra chủ khách hoan hỷ. Lường Khằm nói :

-Ai lại uống nước cả cặn bao giờ? Hạ cho ba giá đi!

Khách chạm cốc chủ đánh cạch một cái:

Rượu say rồi khách ngủ li bì. Lương Khằm đến mấy chủ làm đồ gỗ trong mường giao bán ăn giá. Các chủ làm mộc trao tiền cho Lương Khằm trả cho khách Sơn tràng. Sáng ra các chủ làm mộc cho trâu ra bến kéo gỗ về xưởng. Tính ra Lường Khằm được hưởng tiền chỉ chỏ 30 % của khách sơn tràng và 10 % của chủ nghề mộc. Vậy là lấy công làm vốn chàng buôn bán nước bọt được hưởng 40 % tổng giá trị. Trúng quả này Lường Khằm đủ gỗ làm nhà sàn mười gian. Vợ chàng lúc bấy giờ mới biết tính kiên trì chơi chờ rình cơ hội may mắn của chồng và bắt đầu vui vẻ cho chồng sáng chiều ngày lại ngày hóng mát bên bờ sông.

Ba năm qua đến một sáng có chiếc thuyền thoi cập bến, Lường Khằm bước xuống chơi hỏi :

-Ông chủ thuyền ơi! Có hàng gì thế?

Chủ thuyền chui ra khỏi mui nói :

-Đây có mua bông kéo sợi dệt vải không?

-Có! Mời ông lên nhà chơi nói chuyện.

Lường Khằm dẫn chủ thuyền ngồi chiếu hoa giữa sàn , rồi sai vợ làm cỗ bưng ra . Rượu giót đầy hai chén. Chủ và khách cùng chạm kêu đánh cạch. Khi ngà ngà say Lường Khằm hỏi:

-Bông bán bao nhiêu một tạ? Ông giảm cho tôi mấy giá?

-Trăm tiền một tạ! Giảm cho ông hai giá1

-Giảm ba giá! Mỗi giá mười tiền đi! Tôi mua hết!

Sau tiếng chạm chén cạch cạch ròn rã, khách bán bông tặc lưỡi:

-Ừ thì giảm ba giá 30 tiền một tạ.

Cơm rượu xong ông khách ngủ say. Lường Khăm đi gặp các bà các cô kéo sợi dệt vải trong bản bán với giá 110 tiền một tạ. Ngay chiều hôm ấy đầy thuyền thoi bông bán hết sạch. Lương Khằm buôn bán nước bọt đầu môi được hưởng 40 tiền một tạ. Tất cả thuyền 2 tấn bông chàng thu 800 tiền. Chàng tạu được năm mẫu ruộng mật điền để giành cho con cháu. Vợ chàng cấy không xuể, đem ba mẫu phát canh thu tô. Gia đình Lường Khằm trở thành khá giả nhất nhì bản.

Con trai đến tuổi đi học cần tiền sách đèn và tiền nuôi thầy. Chàng định bán đi vài tấn thóc thì một chiều hôm cái bè nứa chở 10 trâu và một trăm tải bông lau khô neo vào bến. Chàng hý hửng mời chủ bè về nhà, sai vợ bưng ra mâm cỗ đặt giữa sàn. Chủ và khách đánh chén say sưa túy lúy. Lường Khằm hỏi:

-Tất cả bè ông bán bao nhiêu ?

– Mười nghìn tiền! Không khuyến mại một xu !

– Thế thì bớt cho ông 1000 tiền!

Chủ bè say rượu ngủ li bì. Lường Khằm đi gặp các nông gia cần tạu trâu bán 1000 tiền một con, gặp các bà các cô làm đệm hoa lau bán 50 tiền một tải, gặp các nhà trồng rau làm dàn và đan dào 5 tiền một bó nứa 20 cây. Chỉ vài giờ người bản mua sạch bè nứa, 10 trâu và 100 tải hoa lau. Tính ra Lường Khằm chỉ chỏ phất lớn được 1000 tiền trâu + 5000 tiền hoa lau + 1000 tiền nứa, tổng cộn 7000 tiền lo cho con trai ăn học chẳng kém gì quan tạo mường. Tiền còn dư mua trâu bò ngựa thuê người chăn dắt.

Cứ thế cho đến lúc hết đời Lường Khằm chắp tay sau mông, hóng mát gió sông Đà, đợi cơ may làm ăn buôn bán nước bọt mà trở thành phú gia làm cho vợ nở nang cả mày mặt hãnh diện với cả bản có chồng là nòng cốt kinh tế của gia đình.

Các cụ già bản kể thêm rằng khi hai năm mươi Lương Khằm về mường Trời thì một hôm từ nấm mồ nứt toác ra bay lên một con cò trắng bạch như vôi đáp xuống một dòng nước chảy trên đồng đứng thu lu rụt cổ rình, thi thoảng một con cá bơi qua thì lập tức lao mỏ bắt, đánh chén ngon lành, rồi lại đứng như cũ đợi bắt con cá tiếp theo. Đến trưa thì đã no, con cò bay lên bụi tre ngủ. Đến chiều mát lại bay xuống bờ dòng nước chảy cũ, đợi rình vung mỏ mổ con cá bơi qua. Chiều tối đã no riều, cò lại bay về bụi tre ngủ. Sáng sớm từ bụi tre cò lại bay xuống dòng nước chảy

rình bắt cá tiếp chó đến mùa nước cạn thì bay đi nơi khác kiếm ăn. Hè thu năm sau lại bay về. Người ta bảo con cò ấy chính là Lương Khằm đầu thai.

Lò Ngọc Sinh kể- Ghi ở Trường cấp III Văn Yên 1976.

Ngày ấy, Thần Hồ Đầm du ngoạn xem chim nước kiếm ăn thấy choi choi ăn tôm riu, vịt trời mò ốc xơi, cò mổ con cá nhỏ, bói cá bổ nhào xuống nước bắt con cá con, trong khi đó con bồ nông thì xơi những con cá to tướng. Hơn nữa chúng lại đánh nhau tranh giành mồi gây ra cảnh cốc mò cò xơi. Thế là ngài tuyên bố xóa bỏ bất công thực hiện bình đẳng trong xã hội chim nước. Thần Hồ Đầm nói:

-Hồ đầm là của chim nước, ai có công săn bắt tôm cá thì được hưởng. Các loài chim không được tranh giành áp bức bóc lột nhau. Nếu chim nào áp bức bóc lột chim nào thì sẽ bị pháp luật của Thần Hồ Đầm trừng trị thích đáng để bảo vệ quyền lợi bình đẳng của chim nước, giải phóng chim nhỏ bị áp bức.

Hàng ngày chim Chả thấy Bồ Nông thân to như con ngỗng lớn lại có cái mỏ to ơi là to, bơi dong chơi trên hồ đầm, mỏi chân thì nằm trên mặt nước ngủ say sưa, vậy mà thình lình nó lại bắt được con cá lớn bằng bắp tay người, đánh chén ngon lành. Ăn no rồi, nó còn bắt cá nhốt đầy bị dưỡi gậm mỏ, bay về tổ nuôi chim con hoặc làm lương thực ăn dần trên đường bay dài ngày.

Chim Chả không biết thân biết phận mình trời cho thân nhỏ, mỏ nhỏ, cân đối, bắt cá nhỏ sinh sống, mà sinh lòng ghen ăn ghét ở, ganh tị với Bồ Nông thân to mỏ to bắt cá to. Nhân có chính sách xóa bất công, thực hiện bình đẳng lợi quyền của loài chim mà Thần Hồ Đầm đã công bố, chim Chả muốn cướp cái mỏ của Bồ Nông bèn phát đơn kể khổ của mình, kể tội ác của Bồ Nông đã cậy sức mạnh áp bức cướp cái mỏ to làm ăn lớn của mình từ đời ông cha trước đây, gửi lên Thần Hồ Đầm. Xem xong đơn tố khổ của chim Chả, Thần Hồ Đầm coi ông Trời bằng vung, liền cho bắt Bồ Nông tịch thu cái mỏ lớn lắp đền cho chim Chả. Còn cái mỏ chim Chả thì trả lại cho Bồ Nông. Bồ Nông không nhận vứt đi và cãi :

-Then nặn ra Bồ Nông to lớn lắp cho cái mỏ to lớn để bắt cá lớn. Then nặn ra chim Chả nhỏ bé lắp cho cái mỏ nhỏ bé để bắt cá bé. Bồ Nông không cướp cái mỏ to của chim chả bao giờ. Điều này rất phi lý, chim Chả đã vu oan cho Bồ Nông đề nghị Thần Hồ Đầm phải trừng trị chim Chả.

Thế là đám đông chim nước nhỏ bé cò, cốc, le đe, choi choi, sâm cầm, mồng két đồng thanh hô lớn :

-Đả đảo Bồ Nông ngoan cố ! Đả đảo ! Đả đảo! Đả đảo!

-Thần Hồ Đầm sáng suốt vạn vạn tuế!

Thần Hồ Đầm coi mình là thứ nhất, Then thứ nhì nên cứ thi hành án bênh vực kẻ yếu chim Chả chống kẻ mạnh Bồ Nông, không cần biết sai và sửa sai chi cả.

Kết cục Bồ Nông mất mỏ, phải nhờ Thần Núi làm cho cái mỏ mới giống hệt như cái cũ bằng ngà của con voi đã chết quét sơn vàng để tiếp tục bắt được cá to. Còn chim Chả được Thần Hồ Đầm lắp cho cái mỏ Bồ Nông thì không ngớt một lời ơn Thần Hồ Đầm, hai lời ơn Thần Hồ Đầm, ba ơn Thần Hồ Đầm muôn muôn năm. Nhưng rồi cái mỏ Bồ Nông to nặng quá, chim Chả không ngóc đầu lên được, nâng cái mỏ không nổi, kéo cái mỏ không đi, vỗ cánh bay chẳng chuyển, mất mấy ngày không đi kiếm ăn được, đói bụng cồn cào, chờ chim chữ Thập Đỏ cứu tế, cho con cá nhỏ mà chẳng cho cái mỏ thích hợp kiếm ăn. Cuối cùng chim Chả chết đói há mồm , để lại bộ lông dệt áo cánh sả cho công chúa Trung Hoa.

Lò Ngọc Sinh kể – Ghi ở Trường cấp III Văn Yên 1976

Ngày x­ưa ở bản kia có chàng vợ lâm bệnh trọng qua đời, để lại cho hai đứa con mồ côi một gái lên ba, một trai lên một.

Ng­ười ta bảo chàng đắp chiếu ng­ười chết để đấy, đi lấy một ng­ười vợ kế về làm mẹ hai cháu bé, rồi hãy làm tang. Nh­ưng chàng không nghe vì trong lúc tang gia bối rối chàng không có lòng nào để lo c­ưới vợ kế lúc này. Hơn nữa ng­ười đời hiếm có ai dám lấy một ngư­ời đàn ông có hai con mọn và một gia sản không đáng nửa đồng xu.

Khi vợ chàng chư­a đ­ược đư­a ra nghĩa trang, chàng tay bế tay dắt một đứa con túc trực bên linh cữu, đứa thì khóc đòi mẹ cho bú tý, đứa thì hỏi: “Mẹ đi đâu rồi hả bố ?” Chàng chỉ vào linh cữu nói: ” Mẹ chết nằm trong đó!” Đứa bé ngây thơ hỏi lại: ” Sao không mổ thịt nấu ăn hả bố?” Thì ra con bé t­ưởng ngư­ời chết cũng như­ con gà toi mà bố nó làm lông mổ thịt dang cho nó ăn hôm nào. Chàng không giải thích đ­ược cho con bé hiểu về cái chết linh thiêng của con ng­ười, nên ôm lấy hai con thơ mà khóc thảm thiết.

Sau ngày ng­ười vợ an nghỉ ngàn thu, chàng để con bé ba tuổi trông đứa em một tuổi để đi kiếm rau rừng, cua ốc hến suối về nuôi hai con. Lúc hai đứa trẻ đau ốm, chàng lặn lội rừng sâu tìm lá thuốc về sắc nư­ớc cho con uống. Đêm hè nóng bức quạt mo phe phẩy suốt năm canh cho hai con ngủ. Khi chàng vắng nhà hai đứa trẻ thiếu ng­ười chăm sóc nên luôn luôn quấy khóc thật khổ sở. Trư­ớc tình cảnh gà trống nuôi con của chàng ai biết cũng ái ngại như­ng chẳng giúp đ­ược gì? Ng­ười ta nhìn hai đứa trẻ chịu cảnh côi cút chỉ biết thở dài nói : “Không ra ngô thì ra khoai thôi!”

Một chiều chàng tay bế tay dắt hai con chơi trên sân trư­ớc lều cỏ chè vè. Bỗng thấy sợi tóc từ trên trời bay trong gió chiều là là hạ xuống quàng lấy ba bố con chàng. Đứa bé gái cầm sợi tóc vứt đi. Sợi tóc lại bay lên quàng vào cổ ngư­ời bố. Chàng gỡ sợi tóc ấy bỏ ra ngoài thì nó lại bay theo chàng quấn quít bên vai. Cuối cùng chàng thu lấy sợi tóc cuốn tròn thành một vòng gói trong lá chuối khô và nghĩ ngợi lan man. Sợi tóc đẹp quá, chắc là của một ng­ười đàn bà nhân hậu lắm, hay là của một nữ thiên thần ? Chàng gài gói sợi tóc lên vách nứa lều rách.

Từ hôm ấy, ba bố con chàng ăn ngon ngủ yên. Hai đứa trẻ chơi ngoan ít quấy hẳn đi. Chàng yên tâm đi làm thuê làm m­ướn nuôi con. Lạ thay mỗi lần chàng về nhà thấy các con vui vẻ tư­ơi cư­ời chạy ra ngõ đón bố, quần áo sạch sẽ mặt mũi sáng sủa. Chúng níu lôi bố ngồi vào mâm cơm lành canh ngon. Nhìn trong nhà thấy gọn gàng ngăn nắp. Chàng ngạc nhiên hỏi đứa lớn :

-Con biết dọn dẹp nhà cửa và nấu ăn rồi sao?

Nó không nói chỉ c­ười. Đứa bé bảo:

-Khi hai chúng con ngủ dậy thì đã thấy cơm canh có sẵn rồi ạ!

Nhưng chàng cho là truyện hư hư thực thực của trẻ con không để ý nữa. Rồi một hôm chàng thấy đứa bé gái xuất khẩu thành thơ khi có cơn dông đến: ” Trời mưa trời gió đùng đùng/ Tại sao con cóc lại vùng nhảy đi?” Đứa bé đọc: ” Con cóc kêu còng cọc / Nuôi con đi học đỗ liền ba khoa “. Chàng vui vẻ hỏi :

-Ai dạy các con những câu có vần ấy?

-Không ai dạy cả. Tự chúng con nghĩ ra. Con còn biết viết cả chữ rồi nữa cơ

-Lúc chúng con ngủ say có cô giáo dạy chúng con học chữ đấy ạ !

Rồi công việc bận mải làm ăn, thu nhập của chàng ngày càng khá hơn, trả đư­ợc món nợ làm ma cho vợ ngày nào, mua đ­ược gạo chợ nuôi các con, rồi có tiền sửa lại cái lều chè vè dột nát, tiến tới làm đ­ược cái nhà sàn gỗ từ cây xoan, cây bương, cây cọ v­ườn nhà. Gói tóc trên vách xư­a chàng lại cất vào ngăn tủ. Các con khôn ngoan hơn. Chàng có ý định cho các con đến tr­ường bản học.

Ba năm sau. Bỗng một hôm giặc bên kia biên giới tràn sang. Chàng gửi các con về quê cũ lánh nạn. Một mình chàng ngày đi làm ăn tối về ngủ trông nhà. Đêm ấy gió bấc tràn về, trời mư­a lâm thâm rét mư­ớt. Chàng đi làm về đun nư­ớc nóng rửa chân tay rồi lên giư­ờng nằm, chàng mở tấm chăn đơn ra, thì không tin vào mắt mình nữa, nh­ư truyện cổ tích vậy, dưới ánh đèn dầu dọc, một cô gái tuyệt vời xinh đẹp đã nằm đó đợi chàng, mái tóc của nàng dài mư­ợt đen huyền như­ sợi tóc mà chàng đã nhặt đ­ược ngày nào. Chàng run lên khi hạnh phúc về với mình. Chàng ôm lấy nàng h­ương trời thơm nức. Lúc này chàng mới nhận ra nàng chắc từ từ sợi tóc hiện ra nguyên là một công chúa Trời. Nàng thì thào nói :

-Em chờ anh giờ này đã ba đông ! Em là con gái của Then trên Mường Trời. Then cử em giáng trần để lấy anh làm chồng giúp anh gà trống nuôi con mà tình cảnh đã thấu đến trời. Có em ở đây, ngày mai giặc rút về nư­ớc, anh đón hai con trở về, để em dạy hai con nên ngư­ời. Cả nhà ta đều cùng học lấy cái chữ của Trời thì cuộc sống vật chất tinh thần mới có chất l­ượng cao hơn.

-Cảm ơn Then vô cùng đã quan tâm đến thân phận nhỏ nhoi kiếp trần của gia đình anh. Cảm ơn em- công chúa Trời đã chăm sóc bố con anh mà anh bấy lâu ch­ưa biết. Anh thật đoảng và có lỗi với em.

Đêm ấy ng­ười trần kẻ tiên thỏa tình ân ái mà chỉ có những ngư­ời như­ Ngư­u Lang Chức Nữ mới đ­ược Trời ban cho.

Thấy chàng gà trống nuôi con lấy đư­ợc vợ tiên, Tạo mường đến nhà đòi xem giấy giá thú kết hôn như­ng không có liền giở trò phạt hành chính và bắt nàng Tiên tiến vua để lấy th­ưởng. Tức thì nàng Tiên biến thành sợi tóc thòng lọng cổ Tạo Mường bay vút lên trời cao thăm thẳm. Sau đó sợi tóc buông ra, Tạo Mường rơi từ trên trời xuống quả núi đá tan xác.

Không có kẻ nào quấy nhiễu gia đình chàng nữa. Họ vừa chăm chỉ làm ăn vừa siêng năng chuyên cần đèn sách. Công chúa Trời dạy cho chồng và hai con học hết bồ chữ của mình rồi tự sôi kinh nấu sử, mười năm sau, ba cha con thi đỗ trạng nguyên, đư­ợc bổ dụng làm quan đại thần trong triều, cả nhà h­ưởng vinh gia hiển quốc, có nhà lầu vàng gác tía, có xe bát mã, có tiên đồng đạo sỹ giúp việc, tiệc yến nem công chả ph­ượng linh đình.

Nghe tin chàng gà trống nuôi con ngày nào đói khổ mù chữ giờ là quan Tể tướng triều đình, lại có vợ tiên, vua nư­ớc láng giềng cất quân xâm l­ược để bắt nàng tiên phu nhân Tể t­ướng về làm vợ. Quân giặc tràn sang như­ kiến cỏ vây chặt kinh thành. Nhà vua hết sức hoang mang lo sợ định bắt nàng Tiên phu nhân Tể t­ướng tiến vua n­ước láng giềng cho họ lui binh. Tức thì nàng Tiên lại hóa thành sợi tóc thòng lọng cổ vua n­ước láng giềng bay vút lên mây cao. Sợi tóc buông ra, vua nư­ớc láng giềng rơi xuống biển, con cá mập đớp luôn làm bữa điểm tâm. Quan Tể t­ướng cho mở cổng thành tung quân ra đánh đuổi giặc xâm lư­ợc ra khỏi bờ cõi.

Sau chiến thắng, nhà vua đã già nghỉ h­ưu đã truyền ngôi cho quan Tể tư­ớng. Chàng Gà trống nuôi con x­ưng Hoàng Đế, Nàng Tiên là Hoàng hậu, con gái chồng là công chúa, con trai chồng là Hoàng tử. Cả nhà lo xây dựng quốc thái dân an. Trường học mở khắp nơi đào tạo nhân tài giúp nư­ớc. Quốc gia giầu mạnh bậc nhất trong khu vực, mở ra thời đại thịnh trị ch­ưa từng có trên đời còn truyền sử xanh.

Lò Ngọc Sinh kể – Ghi ở Trường cấp III Văn Yên 1976

Tạo Mường Trời sinh được cô gái tuyệt vời xinh đẹp tên là Book Huê. Cô được giáo dục công dung ngôn hạnh mẫu mực. Đặc biệt cô học được phép tiên biến hóa phò thiện. Khi cô đến tuổi cập kê, Tạo Mường Trời đồng ý cho con gái dựng lầu kén chồng trên một vùng núi chưa có vết chân người.

Lầu kén chồng là một ngôi nhà sàn bốn mái khum mai rùa lợp ngói gỗ pơ mu có khau cút, hai thang bằng vàng, sàn bạc, cột gỗ tứ thiết sơn bóng lộng lẫy. Lầu dựng trên quả đồi cao giữa vườn ban trắng ban hồng, có đường độc đạo đi tới và bậc đá đỏ đi lên. Dưới chân đồi có cổng tam quan và nhà đón khách.

Tạo Mường Trời cho thông tin đến chín Châu mười Mường biết Book Huê kén chồng. Chàng trai nào lên được lầu Ban Trắng Hồng của nàng thì nàng sẽ lấy làm chồng.

Tin ấy hẫp dẫn các chàng trai con cháu Tạo Mường và cả thường dân. Ngày khai trương, con trai các Tạo Mường cưỡi ngựa tới đông nghịt. Họ phải đánh nhau máu chảy đầu rơi để tranh đường vào. Kết cục chỉ có một chàng trai chiến thắng mới tới được. Trên đường vào cổng tam quan, bỗng xuất hiện một bà già rách rưới, chống gậy lụ khụ cúi lạy chàng trai nói :

-Chàng ơi! Già sống cô đơn, ốm đau bệnh tật, không cơm , không thuốc. Chàng để phúc để đức cho con cháu hãy giúp đỡ già với!

-Mụ hành khất tránh ra cho ngựa ta đi!

Đi được một quãng thì trước mắt chàng lại hiện lên một tảng đá dựng đứng chặn lối. Tảng đá nói :

-Nhấc ta ra chỗ khác thì mới được đi!

Chàng xuống ngựa sờ mó thử nhấc không nổi, liền cưỡi ngựa phi lấy đà nhảy qua. Chàng tới cổng tam quan. Vợ chồng Tạo Mường cha mẹ Book Huê niềm nở đón chàng vào nhà khách, mời nước mời rượu đãi cơm gà cá gỏi và cho gọi Book Huê xuống đón chàng lên lầu tự tình. Nhưng nàng không xuống. Chàng con nhà Tạo Mường biết nàng không ưng nên buồn bã cưỡi ngựa ra về.

Sau ngày khai trương, hôm nào cũng có chàng trai tới cầu hôn đều gặp bà già hay ông già hành khất hoặc một sản phụ đau bụng đẻ và tảng đá mà không biết ứng xử tốt đẹp dẫu có tới được nhà khách ở cổng tam quan cũng không được Book Huê tiếp trên lầu sàn bạc thang vàng đành cay cú bỏ về. Nhiều chàng trai cho người hành khất tiền , cơm, thuốc, quần áo, đỡ đẻ mẹ tròn con vuông, nhưng không dịch được tảng đá lấy lối đi mà trèo qua cũng thất bại trở về.

Ba năm sau. Bản kia có chàng trai tên là Quảng Khó cha mẹ mất sớm đi ở cho một nhà giầu chăn trâu, người đen như củ súng, nhưng chịu thương chịu khó, hay giúp đỡ mọi người, và thông minh, đã đến tuổi lập gia thất, nhưng quá nghèo chưa lấy được vợ, và cũng chẳng có một mảnh tình vắt vai.

Tin Book Huê con gái Tạo Mường Trời kén chồng đã đến bản. Trong bản đã có mười chàng trai con cháu tạo và nhà giầu đi dự kén rể đều không thành. Họ căm ghét Book Huê nói mỉa nàng chỉ đáng kén chàng chăn trâu Quảng Khó làm chồng. Gặp Quảng Khó ở đâu họ cũng chêu đùa :

-Này! Book Huê đang chờ mày ở lầu sàn bạc thang vàng đấy! Sao còn đi ở chăn trâu làm chi nữa?

Quảng Khó nghe mãi cũng thấy thích. Chàng nhớ lại những câu chuyện cổ thường nói đến những thân phận mồ côi, con ở lại lấy được vợ Tiên rồi làm quan làm vua cả đấy. Biết đâu thân phận mình cũng sẽ được Then nắm phần cho thế.

Một hôm chàng hỏi con trâu đầu đàn của nhà chủ:

-Ta muốn đi cầu hôn Book Huê có thắng không?

Bỗng con trâu nói tiếng người :

Chàng cho rằng con trâu nói được tiếng người phải là con trâu thần thiêng nên xin nghỉ việc để lo lập gia thất. Chàng vào rừng đào củ mài mang về luộc bỏ vào túi đèo đi ăn đường tìm đến Mường Trời. Băng rừng vượt suôi mấy ngày trời chưa biết ở đâu thì con chim Vàng Anh đã tình nguyện dẫn đường cho chàng. Tới con đường độc đạo vào quả đồi ban trắng ban hồng. Chàng gặp một cụ già đói khát xin ăn xin uống. Chàng mở túi lấy ra mấy mẩu củ mài luộc và bầu nậm nước suối ân cần mời cụ già dùng bữa. Ăn uống xong, cụ già tấm tắc khen ngon nói :

-Cháu tử tế lắm ! Hôm qua già được ông quan tri châu đi cầu hôn cho ăn nem công chả phượng cũng không thấy ngon bằng. Già chúc cháu vạn sự như ý !

Chàng đi tiếp đến tảng đá đứng xừng xững giữa đường, vần ra để lấy lối đi không được, chàng nhảy lên quả đồi bên cạnh, rút dao bên hông đẵn một khúc gỗ làm con lăn đòn bẩy vác xuống. Chàng đặt con lăn vào sát tảng đá, lấy một hòn đá làm con kê. Lấy hết sức bình sinh chàng đưa đòn bẩy vào bẩy tảng đá lên con lăn, rồi bẩy nó di chuyển ra mép đường tạo ra lối thông vảo cổng tam quan. Cha mẹ Book Huê tươi cười ra đón chàng vào nhà khách mời nước mời rượu thiết đãi cơm gà cá gỏi. Cơm nước xong, nhìn ra đã thấy Book Huê đẹp như tiên sa cá lặn xuống đón chàng đưa ra giếng ngọc tắm rửa, thay quần áo mới thơm phức, dẫn chàng lên trăm bậc đá đỏ leo thang vàng vào sàn bạc ngồi thảm thổ cẩm tự tình. Nàng nói :

-Em đã nhập vào con trâu đầu đàn mà chàng hỏi, chính em nói câu : ” Được quá đi chứ !”. Chính em là con chim Vàng Anh đưa anh đến đồi Hoa Ban Trắng Hồng và chính em cũng là cụ già hành khất để thử lòng anh. Cuối cùng cũng chính em là tảng đá thử trí thông minh và tài năng của anh. Đã ba năm nay em mở lầu kén chồng, đến phút tốt lành này em mới tìm được anh là chồng của em. Ôi cảm ơn Then đã giành anh cho em !

-Cảm ơn Then, cảm ơn cha mẹ Book Huê, cảm ơn em đã cho anh ban trắng ban hồng tình yêu và hạnh phúc đời thường lớn lao này. Nhưng thân phận anh không môn đăng hộ đối với em đâu. Anh chỉ sợ không làm cho em được hạnh phúc em à!

-Anh nói môn đăng hộ đối là cái gì cơ chứ? Nó là thần hộ mệnh sao? Em coi nó là rẻ rách. Với em chỉ có lòng tốt chân thành và trí tuệ thông thái tài năng như anh đã bộc lộ sẽ tạo ra được hạnh phúc của đôi ta. Em biết hiện nay anh đang mù chữ nhưng khi làm chồng em, tình yêu sẽ biến anh thành nhà quảng trí quảng đức và vua xứ Thái nếu như anh muốn !

Nghe rồi Quảng Khó mới được yên lòng. Nhưng trong thâm tâm chàng không muốn mình làm vua xứ Thái sợ dẫm vết xe đổ của Ngưu Hống.

-Ngày mai chúng ta làm lễ cưới. Em muốn cất chữ Khó làm của quí trong hòm vì giờ đây anh không nghèo khó khổ sở nữa, em muốn gọi chồng em cái tên là Phúc- Quảng Phúc cơ ! Anh có đồng ý với em không?

-Đúng là anh đang hạnh phúc. Anh có phúc Then nắm phần. Anh đồng ý với em!

Hôm sau họ tổ chức cưới linh đình tại nhà sàn bạc thang vàng đồi Ban Trắng Hồng và sống với nhau trăm năm đầu bạc, có nhiều con cháu chắt chít. Họ biến vùng đồi núi xung quanh lầu kén chồng thành một Mường mới trù phú đông dân cư lấy tên là Mường Ban Trắng Hồng, gọi tắt là Mường Ban.

Cầm Ngọc Tú kể – Ghi ở Mường Lò 1980

10-Người diệt Diều Hâu tinh

12-Sự tích lễ hội Xa nặm phôn (cầu mưa)

19-Sự tích suối Hát bản Hát

20-Sự tích Hang Bu Suối Bu Bản Bu

21-Sự tích hai hàng khuy bướm bạc

22-Sự tích bụi nứa Tép và cây sáo pí pặp

25-Họ Khăm giữ đất giữ mường

33-Cầm Hánh đánh giặc Cờ Vàng

37-Nguồn gốc cây lúa nếp Tú Lệ

38-Con hươu vàng bên bờ Nậm Đung

39-Đôi người lại gặp nhau

41-Cậu bé ham chơi cù quay

43-Dạy khỉ bỏ nghề phá lúa bắp

44-Mối tình già bên bờ Nậm Thia

46-Chàng cáo và cô vịt trời

50-Sự tích suối đá cuội và chim Lộc ít ở núi Phiêng Cại

51-Sự tích cây hoa ban và cây vầu măng đắng

52-Cây hoa ban cho sự sống tình yêu

53-Sự thích cây Hoa Ban và Lễ hội Hoa Ban

54-Người nghiện Hổ nghiện

56-Sự tích con cò rình bắt cá bên dòng nước chảy

57- Chim Chả cướp mỏ Bồ Nông

【#3】Di Tích Và Danh Thắng Huyện Quảng Xương

HUYỆN ỦY – HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN – ỦY BAN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG XƯƠNG – TỈNH THANH HÓA

DI TÍCH DANH THẮNG HUYỆN QUẢNG XƯƠNG Tập 1 NHÀ XUẤT BẢN THANH HÓA CHỈ ĐẠO NỘI DUNG

– Ban Thường vụ Huyện ủy Quảng Xương.

– Ủy ban nhân dân huyện Quảng Xương.

CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN

Phó Chủ tịch UBND huyện Quảng Xương.

Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy Quảng Xương.

Nguyên Phó Chủ tịch huyện UBND huyện Quảng Xương.

Trưởng phòng Văn hóa & Thông tin huyện Quảng Xương.

Giám đốc Trung tâm VHTT – TDTT huyện Quảng Xương.

BAN BIÊN SOẠN

Cán bộ phòng Văn hóa & Thông tin huyện Quảng Xương.

Cán bộ Ban Tuyên giáo Huyện ủy Quảng Xương.

Cán bộ Trung tâm VHTT – TDTT huyện Quảng Xương.

THAM GIA BIÊN SOẠN

– Cán bộ văn hóa các xã, thị trấn và thủ từ các di tích.

THẨM ĐỊNH NỘI DUNG

LỜI GIỚI THIỆU

Quảng Xương là vùng quê giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và Cách mạng. Trải qua bao biến cố, thăng trầm, những nét đẹp văn hóa đặc trưng trên mảnh đất này vẫn luôn được trân trọng, giữ gìn và toả sáng. Từ những làn điệu dân ca, dân vũ, những lễ hội tưng bừng rộn rã luôn gắn liền với những di tích lịch sử, cách mạng, những đền, chùa cổ kính, rêu phong, nhuộm màu thời gian, luôn lưu giữ một phần hồn của đất và người Quảng Xương trong trường kỳ lịch sử. Trên mảnh đất thân thương này, cùng với màu xanh của lúa cạnh những con mương dài mềm mại, những rặng tre xa lấp ló mái ngói đỏ nâu, ta thường gặp những cây cổ thụ đã vài trăm năm tuổi lặng lẽ nép mình bên những ngôi chùa, ngôi đền, ngôi miếu rêu phong cổ kính. Một vùng quê có biển, có sông, có đồi, có núi và những Di tích – Danh thắng hiếm có mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Những giá trị di sản văn hóa vật thể ấy mang đậm nét đặc trưng cho dấu ấn của các triều đại, chứa đựng trong đó cả không gian nghệ thuật kiến trúc, hội họa, điêu khắc và tín ngưỡng tâm linh do nhân dân sáng tạo, mang đậm chất nhân văn, tạo nhiều cảm xúc cho những sáng tạo văn học nghệ thuật và là tài sản vô giá của các thế hệ người Quảng Xương. Với mong muốn khơi dậy truyền thống lịch sử, văn hóa và giới thiệu với bạn bè gần xa thông qua những Di tích lịch sử văn hóa của vùng đất Quảng Xương, Huyện ủy – HĐND – UBND huyện Quảng Xương đã có chủ trương biên soạn tập sách “Di tích và Danh thắng huyện Quảng Xương” Tập 1, tập sách giới thiệu giá trị của những Di tích và Danh thắng, đồng thời thức dậy tiềm năng du lịch phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quê hương. Tập sách còn cho thấy, ngoài những giá trị lịch sử, nghệ thuật, tín ngưỡng, “Di tích và Danh thắng huyện Quảng Xương” đã vinh danh những danh nhân lịch sử, những thần nhân lịch sử, gắn kết với những huyền thoại xa xưa, giúp cho các thế hệ hôm nay và mai sau nhớ ơn tổ tiên theo đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Sau nhiều ngày tháng sưu tầm tài liệu, nghiên cứu, biên tập nội dung của nhóm tác giả, được sự giúp đỡ, quan tâm chỉ đạo của Huyện ủy – HĐND – UBND huyện Quảng Xương, sự giúp đỡ chân tình của các nhà nghiên cứu thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa, Ban quản lý di tích và danh thắng, Nhà xuất bản Thanh Hóa, Tập “Di tích và Danh thắng huyện Quảng Xương” Tập 1, giới thiệu 48 di tích tiêu biểu đã ra mắt bạn đọc đúng vào dịp kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Đảng bộ huyện Quảng Xương (26/2/1946 – 26/2/2011). Mặc dù đã hết sức cố gắng, song chắc chắn, tập sách không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong quý vị độc giả đóng góp ý kiến, để lần tái bản sau tập sách được hoàn thiện hơn. Chúng tôi trân trọng giới thiệu tập sách đến bạn đọc. Xuân 2011

Phó Chủ tịch UBND huyện Quảng Xương

Trần Thế Lưu

TỪ ĐƯ­­ỜNG DÒNG HỌ NGUYỄN CÔNG

(Xã Quảng Cát)

Từ đ­­ường dòng họ Nguyễn Công tọa lạc trên một mảnh đất bằng phẳng thuộc thôn Yên Khoái, sau đổi thành Yên Cát, xã Giặc Thư­­ợng, tổng Cung Th­­ượng, huyện Quảng Xư­­ơng. Cuối triều Nguyễn đổi thành thôn Yên Cát, xã Cung Thư­­ợng, tổng Cung Thượng, phủ Quảng Xương. Sau Cách mạng tháng 8, xã Quảng Cát đổi thành xã Phạm Hồng Thái (1947), sau đó sát nhập cùng 2 xã Lam Sơn (Quảng Tâm), Bình Định (Quảng Minh) thành xã Quảng Cát, chia thành 3 thôn Yên Cát, Nang Thôn, Cổ Tháp. Nay thuộc thôn 8, xã Quảng Cát, huyện Quảng X­ương, tỉnh Thanh Hóa.

Theo gia phả của dòng họ và các đạo sắc còn l­­ưu giữ đ­ược thì từ đường họ Nguyễn Công là nơi thờ tự ông: Du Tiến Điện Thiếu khanh Nguyễn Công Truyền và vợ là Huy Nhân – Lê Thị Nhị cùng bà Nhũ mẫu Nguyễn Thị Từ Hoan và các con cháu hậu duệ là Huyện thừa Nguyễn Công Giai; Sở phó Sở xứ T­­ướng sĩ lang đồn điền Vĩnh H­­ưng Nguyễn Công Sĩ; T­ướng sĩ lang Độc Tang điền thu Sở phó Nguyễn Công Thể…

Thủy tổ họ Nguyễn Công có nguồn gốc từ xã Hành Thiện, tổng Đa Sĩ, huyện Quần Tiên, phủ Long Th­ượng, tỉnh Sơn Tây, xứ Bắc Kỳ, lúc bây giờ gia đình có 4 gái, 3 trai, vì gặp nạn sợ liên lụy đến bản thân nên gia đình để lại 2 ng­­ười em chăm sóc, còn đâu tìm nơi ẩn cư. Khi vào đến phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hoa, bà Nguyễn Thị Hoan kết duyên với ông họ Trần ở thôn Yên Khoái – xã Giặc Thượng – huyện Quảng Xư­­ơng (nay là thôn 8 xã Quảng Cát). Ông bà kết tóc se tơ, đến kỳ sinh nở, bà sinh một người con trai, điều kỳ lạ là bà có dòng sữa rất thơm. Vua Lê Hiến Tông (1498- 1504) sinh hoàng tử bụng đau không khỏi, mộng báo ở Yên Khoái – xã Giặc Th­ượng có ng­ười chữa khỏi bệnh cho Hoàng tử, nếu gọi mời đến thì bách bệnh tiêu tan. Năm ngày sau, nhà vua sai người mời bà về Thăng Long chữa bệnh cho Hoàng tử, sau thời gian bệnh tình dần thuyên giảm, ăn uống như­­ thư­­ờng. Vua ban rằng: ” Trời sinh ra ngươi, trẫm sinh Hoàng tử ” và ban tặng quan t­­ước, th­­ưởng tiền, vàng cho bà. Bà tuyệt đối không nhận, đập đầu tấu xin vua một gian nhà tại quê hương để ở, khi chết có phần mộ chôn cất. Nhà vua sai bộ Công xây dựng một toà nhà cho Bà.

Trải qua mấy trăm năm, từ đ­­ường đã bị phá hủy, chỉ còn lại đồ thờ, bài vị và phần mộ ở Nghĩa địa Vĩnh Lăng thôn 8 – xã Quảng Cát.

Năm (1939 – 1940) từ đ­­ường họ Nguyễn Công đ­­ược trùng tu, tôn tạo lại. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ từ đ­­ường bị phá hủy không còn. Năm 1961, chuyển đến nhà ông thủ từ Nguyễn Công Lới bây giờ để làm nơi thờ tự.

Năm 2004, do sự phát triển của dòng tộc, hơn nữa nơi thờ tự cũ quá chật hẹp, với công sức của con em dòng tộc, từ đ­­ường đ­­ược xây dựng khá khang trang trên diện tích khoảng chừng 500m 2. Hiện tại họ Nguyễn Công còn l­­ưu giữ các hiện vật cổ và các đồ thờ có giá trị tại nhà Thủ từ Nguyễn Công Lới gồm đôi Hạc đồng, 1 hạp hương đồng, chân nến, hòm sắc, 15 bài vị, 1 độc bình, hương án, Giao ỷ, kiệu bát cống, 1 cuốn gia phả, 4 đạo sắc phong. Từ đường đã được công nhận là Di tích văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 24/QĐ-VHTT ngày 11 tháng 1 năm 2001.

Di tích Từ đư­­ờng họ Nguyễn Công là một trong những di tích cần đ­­ược bảo vệ, trùng tu tôn tạo, nơi lư­­u giữ hiện vật đồ thờ có giá trị về mặt vật chất và tinh thần của dòng tộc, đây cũng là niềm tự hào của dòng tộc nói riêng và nhân dân địa ph­­ương nói chung.

CHÙA YÊN CÁT – KHU NGHĨA TRŨNG

(Xã Quảng Cát)

Chùa Yên Cát – Khu Nghĩa Trũng – thuộc địa phận thôn 8, xã Quảng Cát, x­ưa kia nơi này là thôn Yên Khoái, xã Giặc Thư­ợng, tổng Cung Th­ượng, huyện Quảng X­ương, cuối triều Nguyễn đổi thành thôn Yên Cát, xã Cung Thư­ợng, tổng Cung Th­ượng, phủ Quảng X­ương. Nay là thôn 8 xã Quảng Cát.

Chùa Yên Cát là tên gọi theo tên địa danh xưa, ngôi chùa đ­ược xây dựng vào khoảng niên hiệu Chính trị (1558 – 1571) đời Lê Anh Tông. Truyền thuyết còn truyền lại trong làng, xưa kia vùng đất này có nhiều lau sậy, sình lầy, dân cư sống th­ưa thớt, bỗng nhiên gặp một trận đại hồng thủy, dân làng nhìn thấy một cây gỗ rất to trôi dạt vào làng, nhân dân coi đây là một cây gỗ thiêng, bèn lập chùa thờ tự. Xưa kia chùa có diện tích khoảng từ 2 – 3 ha, nằm bao quanh khu vực thôn Yên Cát, xã Cung Th­ượng, tổng Cung Th­ượng, phủ Quảng X­ương. Trải qua năm tháng chiến tranh, ngày nay chùa chỉ còn lại hậu cung, các dãy nhà tiền đ­ường, giải vũ đã bị chiến tranh tàn phá không còn nữa. Vào mùa Đông năm Ất Hợi niên hiệu Bảo Đại thứ 10 (1935), chùa đ­ược trùng tu tôn tạo lại hoàn toàn. Ngày nay trên lạc khoản Thượng l­ương vẫn còn ghi ” Hoàng triều Bảo Đại thập niên thứ kỷ hội đồng cát nhật – l­ương thời kiến trụ thượng l­ương đại cát(tức giờ tốt ngày tốt, mùa đông năm Ất Hợi niên hiệu Bảo Đại thứ 10 (1935) kiến lập th­ượng l­ương nhà, đó là lần đầu tiên chùa được trung tu tôn tạo). Sau gần 442 năm kể từ khi chùa đ­ược xây dựng và 75 năm từ khi được đại trùng tu, có thể nói đây là ngôi chùa vẫn mãi tồn tại trên đất thôn Yên Cát, và trở thành nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của dân trong vùng và tín khách gần xa. Vào những ngày tuần tiết, dân trong làng và các vùng phụ cận thường lui tới thắp hương cầu khấn, mong được mọi sự tốt lành, cầu mong sự che chở của Đức Phật để làm ăn sinh sống. Tên gọi Yên Cát (An Cát) phải chăng là một thiện ý cầu mong sự cứu cánh, h­ướng con ng­ười lui tới đ­ược yên vui, tốt lành.

Là một ngôi chùa có lịch sử lâu đời, đ­ược tọa lạc trên một khu đất bằng phẳng, có vị trí địa lý hết sức thuận lợi cho du khách đến tham quan. Trong những năm tháng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chùa là nơi cất giữ quân l­ương và để các thầy đồ dạy chữ quốc ngữ.

Trư­ớc kia, chùa đ­ược xây dựng trên một khu đất rộng, kết cấu hình chữ nhị (=) gồm 2 dãy nhà, nhà Tổ và Phật điện, hai bên nối giữa nhà Tổ và Phật điện có hai dãy nhà giải vũ. Sân trước có 2 ngựa đá, phía bên trong đặt một bàn đá lớn.

Ngày nay nhà Tổ đã bị phá, chỉ còn lại nhà Phật điện 2 gian có kết cấu theo kiểu: 2 tầng mái hộp, kiến trúc chồng diêm, đ­ược xây bằng một loại bột xỉ, tường bao xung quanh. Tính theo chiều ngang: gian thứ nhất rộng 2,5m; gian thứ 2: 2,6m. Tính theo chiều dọc, từ cột cái đến t­ường hiên sau: 1,5m; từ cột cái đến cột cái là 2,5m; từ cột cái đến cột hiên tr­ước 1,45m. Khung cửa được làm bằng đá, chiều cao 2m; chiều rộng 1,3m. Trên đỉnh mái trang trí hình lưỡng long chầu nhật, bốn góc tàu đao đắp hình rồng.

Ngày 8 tháng 11 năm 2000, chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số: 463/QĐ-VHTT. Đến năm 2004, với tấm lòng hảo tâm của con em trong xã và tín khách thập phương, chùa đ­ược tôn tạo khang trang hơn, tượng Tam thế và một số các pho tượng khác được cung tín, để yên vị tại chùa, phục vụ lễ nghi, tế lễ hàng năm.

Năm 2005, đ­ược sự quan tâm của Đảng ủy, chính quyền địa phương, chùa đ­ược mở rộng diện tích: 1.633,1m 2, so với bản đồ khoanh vùng di tích xếp hạng ban đầu, vận động các hộ nhân dân đang sinh sống trong khu vực, di rời ra nơi khác, trả lại mặt bằng cho chùa.

Năm 2009, địa ph­ương tiếp tục đề nghị Tỉnh quy hoạch tổng thể, và chi tiết các hạng mục công trình, từng b­ước trùng tu tôn tạo lại, nhằm giữ gìn phát huy giá trị về mặt vật chất, tinh thần của di tích.

Khu Nghĩa Trũng còn gọi là khu nghĩa trang chôn cất những vong hồn vô thừa nhận do Tri huyện huyện Quảng X­ương Đặng Huy Trứ xây dựng năm 1860. Đây là một nghĩa cử cao đẹp, lòng nhân ái của ngư­ời xư­a đối với ng­ười đã khuất. Khu Nghĩa Trũng được tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 2ha, nằm trên địa phận làng Nang thuộc tổng Cung Thượng, nay thuộc địa phận của thôn 10, thôn 11, xã Quảng Cát. Đây cũng được coi là một khu vực linh thiêng siêu thoát cho những linh hồn xấu số, để những oan hồn không phải bơ vơ, dân gian còn gọi là một khu Nghĩa Thiện, h­ướng con ng­ười đến cái tâm, cái thiện.

Khu Nghĩa Trũng đ­ược quy hoạch theo hai phần: phía Tây đường 4A là 700m 2, có 4 mốc làm giới, mồ mả quy định thành từng hàng. Đối diện với nghĩa địa là phần đền miếu thờ cúng, nằm ở phía Đông rộng chừng 500m 2, có t­ường rào bao quanh và cổng ra vào. Phần chính là nơi cúng tế gồm 3 đàn xây bằng gạch, cuốn tam sơn. Đàn giữa (chính đàn), đàn hội đồng tế liệt vị chúng sinh cô hồn. Các đàn còn lại xây nhỏ hơn, nằm cách đều 4 góc ở đàn chính, kích th­ước mỗi đàn chiều dài 2m; chiều rộng 1,5m, có bức đại tự câu đối:

“Hiền ngu, quý tiện, giai thiện cổ.

H­ương hoả đ­ường đàm tự ­ước niên”

Khôn dại, sang hèn, đều phải chết. Nhà đàn thờ cúng mãi không thôi.

Như vậy chùa Yên Cát – Khu Nghĩa Trũng cũng như­ bao di tích khác đ­ược nhà nước xếp hạng. Đó là cái gốc để chúng ta l­ưu giữ và phát huy về mặt giá trị văn hóa tinh thần, giáo dục truyền thống, bản sắc dân tộc cho con cháu mai sau.

ĐỀN THỜ AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỴ CHÂU

(Xã Quảng Châu)

Theo sử sách xưa, làng Bình Hòa thuộc xã Bình An, tổng Cung Thượng, huyện Quảng Xương, phủ T ĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Làng Bình Hòa xưa mới thành lập làng gọi là làng Trạp, sau đổi tên là làng Điều Hòa. Các cụ trong làng tham gia nghĩa quân đánh trận Ba Đ ình ở huyện Nga Sơn, sợ giặc pháp trả thù đổi tên từ làng Điều Hòa sang làng B ình Hòa.

Triệu Đà biết rằng không thể thắng được Âu Lạc về quân sự nên xin giảng hòa với An Dương Vương và sai con trai là Trọng Thủy sang hàng phục An Dương Vương, xưng thần mà thờ. An Dương Vương gả con gái là Mỵ Châu cho Trọng Thủy. Trong những năm ở rể, Trọng Thủy đã dò xét tình hình ở Âu Lạc, học phép chế nỏ và phá nỏ của người Âu Lạc rồi về nước báo cho Triệu Đà. Lần này Triệu Đà đã thôn tính được nước Âu Lạc. Vua An Dương Vương thua trận phải nhảy xuống biển tự vẫn (bờ biển ph ía N am Thanh Hóa – Bắc Nghệ An). Từ đây, đất nước ta ch ìm đắm trong đêm trường nô lệ hàng ngàn năm Bắc thuộc.

Trong sách Thanh Hóa Chư thần lục bản VHV 1290, biên soạn năm Thành Thái thứ 15(1893) ghi Nam Hải Tôn thần, thôn B ình Hòa, huyện Quảng Xương thờ (sách đ ã dẫn trang 64). Hơn nữa các sắc phong từ thờ i Lê đến thời Nguyễn đều ghi là đền quốc tế có nghĩa là theo những nguyên tắc của nhà nước.

Đà có đặng vui phen thái hội Lại thêm tươi sắc vẻ tài hoa Nga nguy miếu phật trong vùng nhất Thấm cho dân phúc Tĩnh Gia

Trước đây, tại đền thờ An Dương Vương các lễ hội: hàng năm được tổ chức hết sức quy mô, thành kính với các hình thức.

– Đánh cờ tướng

– Giáo cờ, lượm quân cờ

Ngày nay lễ hội tổ chức vào ngày 29 và ngày 30 tháng giêng.

Có thể nói, Đền thờ An Dương Vương có dấu ấn lịch sử để chúng ta tìm hiểu về cội nguồn của đất nước, dân tộc với nhiều tục lệ có giá trị, góp phần giáo dục truyền thống quê hương cho thế hệ ngày nay và cả mai sau. Đền còn là khu danh lam thắng cảnh phục vụ cho du kh ách gần xa qua lại thăm viếng.

Ngày 1 tháng 9 năm 1958, thực dân Pháp nổ súng tại Đà Nẵng, công khai phát động chiến tranh xâm lược nước ta. Triều đình nhà Nguyễn đã ký hai hòa ước ngày 25 tháng 8 năm 1883 và ngày 6 tháng 6 năm 1884, thực chất đây là những hòa ước thừa nhận sự đô hộ lâu dài của thực dân Pháp trên đất nước ta. Việt Nam trở thành một xứ thuộc địa nửa phong kiến của thực dân Pháp. Trong nội bộ triều đình, phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu đã tấn công thực dân Pháp ngày 5 tháng 7 năm 1885. Nhưng do tương quan lực lượng và sự chuẩn bị chưa đầy đủ, cuộc phản công đã thất bại, kinh thành Huế rơi vào tay giặc. Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi rút ra phía Bắc để tính toán một cuộc kháng chiến lâu dài. Ngày 13 tháng 7 năm 1885, tại vùng rừng núi ở miền tây Bình – Trị – Thiên, vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương kêu gọi toàn dân đứng dậy chống Pháp. Ngày 19 tháng 9 năm 1885, vua Hàm Nghi lại ban chiếu Cần Vương lần thứ 2 để phát động phong trào chống Pháp mạnh mẽ hơn nữa.

Hưởng ứng chiếu Cần Vương, các văn thân, sĩ phu yêu nước và nhân dân cả nước nói chung và Thanh Hóa nói riêng đã nhất tề đứng lên, quyết tâm kháng chiến chống quân xâm lược.

Có thể nói, so với cả nước, phong trào Cần Vương chống Pháp của Thanh Hóa là sôi nổi, mạnh mẽ và liên tục nhất. Ở vùng đông bắc Quảng Xương, cuộc nổi dậy chống Pháp do Lãnh Phiên lãnh đạo cũng gây được tiếng vang rất lớn.

Lãnh Phiên sinh vào tháng Chạp năm Ất Dậu (1826) tại làng Xuân Phương (tức làng Lan), xã Quảng Châu, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Tên thật của ông là Vũ Đình Phiên, tên huý là Phúc Ngoạn. Cha của Vũ Đình Phiên là Vũ Đình Trực, một người rất có khí phách và uy tín trong vùng.

Lãnh Phiên có vóc dáng cao to, mặt vuông chữ điền, là con nhà gia thế nên ông sớm được đi học, ông học rất thông minh. Khi lớn, ông được học võ nghệ nên càng có khí phách hơn người.

Do có chí khí và uy tín, Lãnh Phiên đã được bổ làm Trương tuần, Lý trưởng, đến Thanh tra hàng tổng và phó tổng Cung Thượng. Dân trong vùng gọi ông là phó tổng Phiên.

Nhận được chiếu Cần Vương chống Pháp, Lãnh Phiên đã nhanh chóng liên kết, liên lạc với nhiều văn thân, sĩ phu, những người yêu nước ở quanh vùng như: ông Cát, ông Chiệc, ông Chùy, ông Soạn, ông Thú ở làng Lan (làng Xuân Phương), ông Tĩnh, ông Lý Xang, ông Cai Đề, ông Cai Trắm, ông Đễ ở làng Đệu (làng Kiều Thôn), ông Cử Mãu, ông Đoàn Xuân ở làng Nghệ (làng Trường Thọ, xã Quảng Ninh), ông Bạ Chính ở Trại Mãu (trước đây thuộc đất Hoằng Hóa, nay là làng Đa Lộc, xã Quảng Châu), ông Lê Viêm, ông Đường Hiêng ở làng Hòa Chúng (nay là xã Quảng Thọ)… Đó chính là những hạt nhân cho sự phát triển của nghĩa quân của Lãnh Phiên.

Tháng Mười năm Ất Dậu (11/1885), các lãnh tự văn thân của triều đình và Thanh Hóa đã phong cho ông chức Lãnh Binh. Đồng sự của ông được giữ chức Tham sự kiêm Thủ Bạ, Lê Viêm giữ chức đốc vận quân lương, Đinh Thiên Hiên giữ chức Thương Biện, trở thành những trợ thủ đắc lực của ông.

Sau khi nhận chức và chịu sắc mệnh đánh Tây của triều đình kháng chiến, đứng đầu là vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết, Lãnh Phiên đã chiêu mộ hào kiệt, quân sĩ. Thanh thế nghĩa quân ngày càng mạnh, tráng đinh tụ nghĩa ngày một đông, các hào phú cũng tự nguyện đóng góp lương thực, thực phẩm nuôi quân sĩ.

Quân số nghĩa quân tăng nhanh, Lãnh Phiên quyết định di chuyển đại bản doanh từ làng Lan sang làng Kiều (phía tây làng Xuân Phương bây giờ) để dễ bề hoạt động. Nghĩa quân đóng chốt ở làng Trù Lễ, Hòa Chúng, Kiều Thôn gần cánh đồng Cồn Tiên, Mỏ Giang ở phía Nam lưu vực sông Mã, liên lạc với các lãnh tụ nghĩa quân ở các huyện lỵ quanh vùng, mở rộng địa bàn, quân sĩ lên tới hàng ngàn người.

Rằm tháng Giêng năm Bính Tuất (19/12/1886), tại ngã ba làng Lan (làng Kiều), nghĩa quân Lãnh Phiên đã tế cờ, tế súng và khai đao, với sự có mặt đông đủ các văn thân, sĩ phu, nhân dân trong và ngoài tổng, quyết thề không đội trời chung với quân xâm lược. Nghĩa quân chiến đấu nhiều trận, lập nhiều chiến công vang dội. Ngày 9 tháng 6 năm 1886, quân Lãnh Phiên đến Ba Đình (Nga Sơn) chi viện cho căn cứ chống Pháp ở Ba Đình của Đinh Công Tráng và Phạm Bành. Cuộc chiến ở Ba Đình vô cùng quyết liệt, nghĩa quân Lãnh Phiên chiến đấu anh dũng, kiên cường, làm cho quân Pháp thất điên bát đảo. Giặc Pháp luôn lùng sục để tiêu diệt nghĩa quân, đi đến đâu chúng cũng đốt nhà, cướp của, giết người để trả thù nghĩa quân.

Thực dân Pháp tập trung lực lượng tấn công căn cứ Ba Đình – mối lo của chúng lúc bấy giờ. Ba Đình thất thủ đêm 21 tháng 1 năm 1887, tức ngày 28 tháng Chạp năm Bính Tuất, nghĩa quân rút về địa phương và căn cứ Mã Cao.

Ngày 24 tháng Giêng năm Đinh Hợi (1887), do có kẻ chỉ điểm, giặc đã bắt được Lãnh Phiên tại làng Trường Lệ, xã Quảng Vinh khi ông gặp Đề Đớn để bàn việc quân binh. Bắt được Lãnh Phiên, gặc Pháp đã tìm mọi cách dụ dỗ ông đầu hàng, nhưng không được. Biết không thể khuất phục được người anh hùng, thực dân Pháp đã chém ông vào sáng ngày 22 tháng 2 năm Đinh Hợi (tức ngày 3/4/1887) ở thành Thọ Hạc, khi đó ông 61 tuổi. Con cháu, thuộc hạ đưa thi hài ông về an táng tại gò đất Nghĩa Trũng (nay thuộc xã Quảng Cát).

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, 4 làng Xuân Phương, Kiều Thôn, Yên Trạch, Bình Hòa ghép lại thành một xã, gọi là xã Lãnh Phiên. Năm 1947, 3 xã Lê Viêm, Lãnh Phiên, Bạch Đằng hợp lại thành xã Quảng Châu. Chợ cầu Trõi, làng Hòa Chúng, xã Quảng Thọ được đổi tên là chợ Lãnh Phiên cho đến tận ngày nay, cầu Trõi còn được gọi là cầu Lãnh Phiên.

Hiện nay, mộ, nhà bia và nơi thờ ông đã trở thành di tích lưu niệm một danh nhân anh hùng của làng xóm, quê hương, đất nước.

Mộ Lãnh Phiên:

Như trên đã nói, sau khi Lãnh Phiên bị giặc hành quyết ở thành Thanh Hóa, con cháu cùng thuộc hạ đã đưa thi hài ông về an táng tại gò đất Nghĩa Trũng. Sau này con cháu đã xây mộ ông bằng gạch.

Nhà bia:

Tại nhà người cháu nội của Lãnh Phiên là ông Vũ Đình Kỳ vẫn giữ được tấm bia đá “Vũ từ đường bi ký” rộng 50cm, dày 10cm, cao 90cm, chữ còn sắc nét, được soạn khắc năm 1904. Vì sợ thực dân Pháp trả thù, văn bia không ghi chép rõ về lai lịch của Lãnh Phiên, nhưng lời lẽ trong bia rất ý tứ nhắc nhở con cháu tu nhân tích đức, phụng thờ cha mẹ thì mới là người nhân nghĩa và giữ nghĩa anh em.

Nơi thờ:

Nơi thờ Lãnh Phiên Là một nhà gỗ 5 gian, gian giữa là nơi bày hương án và các đồ thờ, có câu đối từ xưa do cụ Đồ San để lại:

“Quốc thế dĩ trầm quân thượng phấn

Tướng đầu vị đoạn tạc do binh”

Dịch nghĩa: Nước nhà đã đắm thân còn dân Đầu tướng chưa lìa giặc vẫn kinh.

Lãnh Phiên đã để lại tấm gương sáng về lòng yêu quê hương, tổ quốc, đồng bào, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Vì vậy, ngày 20 tháng 2 năm 2001, Giám đốc sở Văn hóa – Thông tin Thanh Hóa đã ký Quyết định số 25 /QĐ-VHTT công nhận “Nơi thờ – Mộ – Nhà bia Lĩnh Phiên (Vũ Đình Phiên)” là di tích lịch sử văn hóa

Đương thời có “Bài ca Lãnh Phiên” như sau:

“Nhà nước mới mở mang khu vực Liền quận thành mọi việc đều hay Năm thôn chung một cõi này Xưa kia khen ngợi, ngày nay tiếng đồn Bình Hòa với Kiều Thôn, Yên Trạch Cùng hai làng Đa Lộc, Xuân Phương. Ở trong vùng quận Quảng Xương Lãnh Phiên danh giá vẻ vang nước nhà Vốn dòng dõi ông cha họ Vũ, Bẩm sinh ra hào phú tài hoa Khi phó tổng, khi thanh tra Lúc vào trại chủ, khi ra trương tuần Vừa gặp hội văn thân khởi nghĩa Ông cùng người sức khoẻ chí cao Tinh thông tam lược lục thao Văn ôn võ luyện bên nào cũng nên Thuyền quân Pháp vượt qua Bến Thủy Thử qua xem tình thế thế nào? Ông đem sản vật ra chào Trứng gà một quả, chuối tiêu một buồng Ông trông chúng ra phường dị loại Quyết trở về hăng hái dấy binh Sơn phòng chánh sứ nổi danh Om thòm trống trận, rập rình nhạc quân Trong hổ tướng xoay vần đoán chế Ngoài hùng binh bệ vệ sắc đôi Tính năm khoảng độ một, hai Sấm ran cõi đất, tiếng oai vùng trời Chợ cầu Trõi là nơi chiến địa Lệnh nghiêm quân chia rẽ ba bên Hậu quân vừa mới tiến lên Súng thần giật lại, ông liền lui binh Nghe Ba Đình có Đinh Công Tráng Với Phạm Bành hai tướng đổng nhung Kéo cờ chiêu phủ tiên phong Luyện binh, tuyển tướng đùng đùng kéo ra Năm Ất Dậu mùng ba tháng Chạp Lệnh nghiêm quân thúc giáp vào thành Hàng hàng đứng trước đại doanh Bài ngà ban thưởng lĩnh binh tức thì Giúp mấy trận đánh Tây lừng lẫy Từng quan năm, quan bảy thua lăn Đồn binh vừa được ba tuần, Lại thêm ngày tết lương ăn thiếu mà Đêm 28 kéo ra từng lớp Mỗi xứ đoàn đi khắp mọi nơi Trở về ăn tết xong xuôi Lại toan chuẩn bị những hồi về sau Tới Đề Đỡn cùng nhau bàn bạc Tây bỗng đâu đã kéo trước cờ Đương khi bất ý hững hờ Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn Đề vác lưới thoát liền ra biển Còn mình ông cô thế biết sao Tử sinh phó mặc thiên tào Vẫn còn lưu tiếng anh hào đến nay Trong khu vực ở đây là thế Còn ngoài ra sẽ kể dần dần Cộng hòa chính thể muôn xuân Mọi phần xếp đặt, mọi phần vẻ vang”. (Tác giả: Cụ Đồ San, tên thật là Đinh Viết Tiến (1875 – 1955).

Noi gương các bậc tiền nhân, nhân dân xã Quảng Châu với truyền thống yêu quê hương, đất nước, không ngừng phấn đấu xây dựng quê hương đạt nhiều thành tích về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội. Do đó, xã Quảng Châu luôn được Đảng và Nhà nước phong tặng nhiều danh hiệu cao quý rất đáng tự hào.

NGHÈ LÀNG KIỀU

(Xã Quảng Châu)

Theo sách Thanh Hóa chư thần lục thì Khương Tử Nha tước Thái hiệu công Khương Thượng là nhà triết học trí giả uyên bác của Trung Quốc cổ đại để lại 6 bộ sách có giá trị trí tuệ rất cao trong nhiều lĩnh vực là: v thư, long thư, thư, quyển thư là di sản to lớn không những của văn minh Trung Hoa mà cũn g góp phần quan trọng vào kho tàng văn minh P hương Đông và nhân loại.

Dưới triều vua Tự Đức có ngài Đinh Huy Nghiêm đỗ tú tài năm C anh Tuất (1850) có công xây dựng nghè và các công tr ình văn hóa nên khi mất được làng rước vong về nghè tôn thờ và trình vua sắc phong, trong đó có câu “Hoàng triều Canh Tuất niên tú tài Đinh Huy Nghiêm Chi quan từ hạ” mà trong các bài văn tế hàng năm mãi mãi còn ghi .

” Đinh Tín Đệu thôn nhân kiệt xuất

Cường nghi thống duệ Hiển liệt đoan túc Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng tôn thần Dạy cho con cháu biết hơn lẽ đời. Tài cao đức trọng hơn người, Đức dày công lớn đời đời sáng trong. Ơn ngài lượng cả khoan dung, Ngày nay con cháu nối dòng vinh quang. Biết bao thế hệ trong làng, Đã làm rạng rỡ vẻ vang làng Kiều.

Tiếng thơm của Ngài đã để lại cho con cháu sau này mãi mãi noi theo. Dân thờ phụng Ngài là theo lẽ lương tri và tình cảm của con người, ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Có cuộc sống bình yên hạnh phúc hôm nay là do Ngài có tài cao đức trọng, chiêu dân hồi sinh làng xóm trong tình thế hoang tàn, phiêu tán, Ngài là thần làng thế tổ họ Đinh nhưng cũng là tổ bên ngoại của nhiều dòng họ khác trong làng. Việc dân làng thờ phụng cũng là các lớp hậu duệ nội ngoại thờ phụng tổ tiên của chính mình.

Ngày nay, linh vị Ngài đặt ngôi hai tại nghè, và khu mộ chí tại cồn Chào Mào phía Đông Nam, Nghè đã được trùng tu nâng cấp, nhân dân trong làng lui tới dâng hương.

Kế tục Ngài là lớp con cháu nối nghiệp với các vị tiên liệt như: Đinh Nhân Khải, Đinh Huy Nghiêm, Đinh Thân Huy… đã vận động tổ chức tốt, nên bước sang thế kỷ 19, làng Kiều lại trở thành một làng lớn, dân cư đông đúc, làm ăn thịnh đạt, có luật lệ nghiêm minh và xây dựng nhiều công trình văn hóa quy mô lớn, có giá trị nghệ thuật cao, được sánh vai với các làng lớn trong tổng Cung Thượng, huyện Quảng Xương.

Trong các vị tiên liệt nối nghiệp tiêu biểu là ngài Đinh Huy Nghiêm, cháu đích tôn của Ngài là đệ nhị Thánh sinh năm 1892, đậu tú tài năm 1850 là người có đức độ và uy tín nên đã tổ chức cho dân đắp đê ngăn mặn, mở rộng diện tích trồng lúa, nuôi cá, nuôi tôm, mở rộng đường làng rợp bóng dừa xanh.

Đặc biệt năm (1850) xây dựng khu nghè làng quy mô bề thế nhất xã Cung Thượng xưa. Đến nay, những người cao tuổi còn nhớ rõ kiến trúc gỗ bề thế theo kiểu chồng rường xà thủ với những bước phù điêu hoa văn chạm trổ nhiều điển tích giá trị. Từ khu tiền đường to rộng đến khu trung đường, hậu cung bố trí theo hình chữ Đinh, trang hoàng choáng ngợp những hoành phi, câu đối và các đồ thờ quý giá chói lọi vàng son. Đặc biệt là nghi môn ở phía trước nghè chính hướng Tây Nam có kiểu dáng uy nghi hoành tráng và có giá trị nghệ thuật cao.

Dòng chữ viết trên bài vị Thần chủ là những dòng về chức tước vị thần được ghi trong sắc phong như: Thái công Khương Thượng Thượng Thượng đẳng tôn thần linh vị. Đinh công nhân tín đại vương linh phù tôn thần vị. Hoàng triều Canh Tuất niên tú tài khoa Đinh Huy Nghiêm chi quan từ hạ linh vị.

Phần trung đường là thần linh được hiện ra thành tượng, là những vị thần có lai lịch: đó là 3 pho tượng của Khương Tử Nha, Đinh Công Nhân Tín, Đinh Huy Nghiêm, những Thần Hoàng làng với câu đối:

“Hoàng triều Đại Việt phong tam thánh

Cố lý Tiên Trang hợp nhất từ”.

Các vua nước Việt phong ba thánh Làng cổ Tiên Trang thờ một Nghè.

4 câu đối được bố trí trang trọng 4 góc phía trước là các câu:

“Lập đức, lập công dich dịch năng thanh bất hủ

Vị thần, vị tổ du du linh tích trường tồn”.

Tạo đức lập công vời vợi tiếng thơm không ngớt Là thần là tổ rõ ràng linh tích còn dài Câu 2:

“Thành dân công đức lưu phương viễn

Dịch thế cơ cưu hữu cốc di”

Tạm dịch: Nên công đức tiếng thơm để mãi Nối đời nền nếp thóc gạo để về sau

Di tích lịch sử văn hóa nghè làng Kiều là nơi chứng kiến lịch sử, lưu giữ và phát triển văn hóa, nơi có thành hoàng biểu tượng thiêng liêng nhất của làng. Mỗi dịp lễ hội của làng Kiều là một dịp chuyển giao văn hóa, sáng tạo văn nghệ. Lễ hội làng là sợi chỉ hồng liên kết tâm linh, kết thành sức mạnh to lớn, bền vững trong dựng làng giữ nước, là biểu tượng sức mạnh đoàn kết gắn bó mọi thành viên cộng đồng.

Nghè làng Kiều là di tích lịch sử văn hóa còn lưu giữ nhiều hiện vật quý hiếm như: Long ngai, sắc phong, hoành phi, câu đối từ các thế kỷ tr­ước. Nghè làng tôn thờ những danh nhân, và những người có công dựng làng, giữ nước trong không gian thiêng liêng hoành tráng.

Các vị thần thiêng nhắc nhở về cội nguồn trong sự học tôn vinh kẻ sỹ và lễ hội là dịp giải toả những khúc mắc trong cộng đồng làng xóm, là sợi dây kết nối các dòng họ trong làng thêm gắn bó, thân thương, củng cố quan hệ trong đời sống thường nhật. Những biểu tượng tâm linh, mối quan hệ cộng đồng thiêng liêng ấy là cơ sở, là động lực, tạo niềm tin để người dân làng Kiều trụ vững trong mọi gian lao, thử thách, tiến lên theo trào lưu phát triển của đất nước.

Nằm trên con đường thiên lý Bắc – Nam xưa, cùng với dấu tích của các sông đào thời Lê – Nghè làng Kiều là chứng tích cho những diễn biến lịch sử quan trọng như cuộc chiến Lê – Mạc; Quang Trung hành quân ra Bắc, phong trào Văn thân và ngay cả trong thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ vừa qua. Vì vậy nó có giá trị mở ra một hướng nghiên cứu về văn hóa lịch sử của một vùng quê giàu truyền thống.

(Xã Quảng Châu)

Bình Hòa nằm ở vị trí địa lý khá thuận lợi, giáp liền với cửa Hới và dãy núi Trường Lệ, nơi có thị xã du lịch Sầm Sơn nổi tiếng. Hơn thế nữa, đây là vùng đất lịch sử gắn liền với nhiều huyền thoại như: An Dương Vương và Mị Châu, Quan Nghè Quản Di Đài, mang đậm tính nhân văn và giáo dục cao.

Nghè Sày nơi thờ ông Quản Di Đài thời Lê Trung hưng; truyền thuyết trong làng còn kể lại: Vào khoảng thời gian (1676-1789) thời Lê Trung hưng, có một người từ nơi khác đến, đóng vai bần hàn bỏ quê hương đi kiếm sống. Ông xin làng một miếng đất ngụ cư, cuối cùng làng cũng thương tình cho ông một khu đất bỏ hoang toàn cát ở phía Bắc. May mắn cho ông, miếng đất làng cho lại được huyệt trúng vào đầu Khủng long cho nên phát phúc. Ông bỏ tiền xây dựng cơ nền, mua sắm đồ dùng bát đĩa, chum vại… rồi trở về quê hương đưa vợ con đến ở.

Trước nhà ông có một đường đi xóm Bác Đáy (nay là thôn Châu Chính) xuống các cánh đồng, có một đoạn dài 200m rộng 1m, dân đắp bờ lên hai bên mặt đường phòng trời mưa không cho nước chảy vào ruộng. Trâu bò qua lại bị lầy quá bụng, kéo lê kéo lết mới lên được, do vậy nhân dân gọi là Ngõ Sày (hãy còn gọi là Ngõ Nghẽn). Xung quanh khu đất ông ở cũng được gọi cái tên là Cồn Mày, thân đất dưới gọi là Mày Chua.

Được một thời gian dân làng mới biết tên ông là Quản Di Đài, nguồn gốc từ Hải Dương vào. Ông là người kinh sử giỏi giang nhưng gặp phải cảnh học tài thi phận, khoa cử lận đận, nhiều năm mà không đỗ. Để tránh tiếng đua ganh ở quê cũ, ông dứt áo ra đi, tìm nơi đất tốt ngụ cư thực hiện chí học của mình. Ông có một người chị là Quản Thị Hiền là người rất xinh đẹp được tuyển vào làm cung tần hầu vua. Sau này người chị cũng trốn bỏ về cùng ông lấy cụ Lương Hữu Cẩn.

Vào khóa thi cuối thời hậu Lê ông thi đỗ Tiến sĩ(), theo điều lệ quy định của triều đình, ông vinh qui bái tổ, cờ rong trống mở quan lại quê hương, nhân dân nơi cư trú phải tổ chức rước ông về làng. Trong làng một số vị quan lại chức sắc do sĩ diện với quê hương nên tỏ ý đố kỵ ghen ghét, coi thường ông chỉ là một nho sinh nghèo vừa phiêu bạt đến đây mà đã sớm được xứng bảng đề danh hơn các bậc quan lại trước đây trong làng. Do vậy họ tỏ ý coi thường, khinh rẻ và bày ra cái trò đem ghế nhổ mạ ra làm kiệu khênh, lọng bằng nón sổ vành, cờ bằng khố cho làng đi trước. Thấy cảnh trái ngang, dân làng miệt thị mình, ông quá uất hận nhưng vẫn cố nén chịu, đi bộ về nhà chia sẻ nổi niềm cùng vợ con. Về đến nhà ông lập đàn tế cúng, tấu lên Thiên Tào, Bắc Đẩu, cửu trùng về nổi oan khiên của mình. Sau đó vì uất hận không chịu nổi ông liền tự vẫn, thật là bi thương.

Sau cái chết của ông, như có sự linh nghiệm đến quỉ thần trời đất, trong làng Bình Hòa liên tục xảy ra nhiều tình trạng chết người hại của, chẳng ai học hành thi cử đỗ đạt. Tai họa này đến tai họa khác liên tục giáng xuống khiến cho cư dân điêu đứng. Nhiều người trong làng phải dời bỏ quê hương tìm nơi mưu sinh cuộc sống. Hối hận với những việc làm sai trái với quan nghè Quản Di Đài, dân làng đã lập đàn, mời thầy phù thủy cao tay nhiều lần về cúng tế nhưng vẫn không linh ứng. Cuối cùng dân làng họp bàn, những ngày đại lễ và những ngày lễ khác được làm cổ mặn, phối thỉnh ông trên bàn sập hội đồng. Đặc biệt mâm cổ của ông thứ gì cũng phải đủ 12 đĩa, bát hoặc 12 khay trầu tượng trưng cho 12 cửa họ trong làng sám hối đối với ông, mong cầu ông xá bỏ uất hờn giúp đỡ cho dân làng.

Sau khi ông qua đời, con cháu ông không biết đi đến chỗ nào? kể cả bà chị gái ông. Phần mộ ông được đặt trên khu đất làng đã cho ông, khu đất này so với ruộng Mày Chua cao tới hơn 2m, những năm mưa to gió lớn dân ra lấy được bát đĩa, nồi đồng, mâm đồng…dân gian cho rằng đó là của cải đồ dùng của gia đình ông Quản Di Đài, sau khi ông mất, con cháu bỏ đi nơi khác nên chôn cất giấu của, khu đất ấy tới nay nhân dân vẫn gọi là khu đất ông Nghè Sày.

Như vậy, về nhân vật Quản Di Đài được thờ ở Nghè Sày nó chỉ là tương truyền, thực chất nó là một truyền thuyết đầy tính nhân văn nhằm giáo dục con người. Việc ông Quản Di Đài thi đỗ Tiến sĩ khoa nào cho đến nay chưa có tài liệu nào ghi chép. Chỉ thấy hiện nay một số các tài liệu thành văn hiện trong nghè nơi thờ ông có đề cập đến việc ông là Tiến sĩ được gọi là ông Nghè. Nội dung câu đối như sau:

“Tiến sĩ tôn ông thiên cổ tại.

Quan nghè tưởng niệm quốc gia phong”.

Quí ông tôn quí đổ Tiến sĩ nghìn năm vẫn ở chốn này.

Tưởng niệm về quan nghè được đất nước phong tặng. Ngày nay trên đất ông Nghè Sày, nơi ngôi nhà ông ở trước đây vẫn còn một chính tẩm cũ, được một gia đình họ Lương vì thương cảm số phận của ông cho nên lập một ngôi miếu với qui mô khang trang hơn nhiều so với trước, kể cả hệ thống đường vào cũng được rải nhựa để thuận tiện cho việc lưu thông qua lại. Đôi câu đối treo trong Nghè minh chứng rõ ràng hơn:

“Quản môn xuất thế gia đình cựu. Quan Nghè hiển ứng miếu vũ tân”. Nơi xuất thế gia đình họ Quản cũ. Miếu đền quan Nghè được tôn tạo mới.

Toàn bộ khu di tích quay về hướng Tây Bắc, trước mặt là ao tạo nên yếu tố minh đường, xa xa là cánh đồng lúa bao la bát ngát. Toàn bộ khuôn viên di tích đều được xây tường bao kiên cố. Muốn vào di tích phải qua cổng Nghinh môn, cổng mới được tôn tạo theo kiểu hai tầng mái gồm ba cửa ra vào. Các con giống được đắp gắn ở phía trên các tàu mái cùng các đường cong, nét lượn đã tạo nên giá trị thẩm mỹ cho di tích và kiến trúc cho công trình. Qua cổng Nghinh môn là sân đền lát gạch, tiếp đến là nhà tiền đường. Nhà tiền đường được làm theo kết cấu hình chữ Đinh (J) bao gồm một Tiền đường và một hậu cung. Hậu cung là nơi bài trí Tượng và linh vị quan Nghè Quản Di Đài. Nhà tiền đường lợp ngói, trên đỉnh nóc có đắp lưỡng long chầu nhật. Bên trái nhà tiền đường là nhà Mẫu, nhà khách…

Như vậy, mặc dù di tích Nghè Sày mới được tôn tạo lại, nhưng đây là một di tích có công trình kiến trúc bề thế khang trang, có sự kết hợp hài hòa giữa xưa và nay. Một điều đáng chú ý là về nhân vật thờ tại di tích, với những diễn biến nhân vật, phản ánh giá trị nhân văn sâu sắc về giáo dục văn hóa truyền thống cho thế hệ con cháu sau này. Nếu như theo quy hoạch của tỉnh, Thành phố Thanh Hóa sẽ kéo dài về phía Đông nối liền với Thị xã du lịch Sầm Sơn, thì Nghè Sày sẽ trở thành một điểm tham quan du lịch hấp dẫn đối với du khách.

ĐỀN XUÂN PHƯƠNG

(Xã Quảng Châu)

Làng Xuân Phương, xã Quảng Châu, huyện Quảng Xương vốn có lịch sử văn hóa lâu đời. Cư dân tụ cư trong làng tập trung chủ yếu là dòng họ Nguyễn, họ Phạm và họ Vũ; những dòng họ này về đây đã khá lâu, tạo nên một cộng đồng làng mạc hôm nay. Quá trình hình thành làng mạc đã từng bước mở mang đất đai ra phía biển, với các ngành nghề đắp đập nuôi trồng thủy sản, cấy trồng cây lúa nước, cây hoa màu là những sinh hoạt chính để tồn tại và phát triển.

Tụ cư lập làng nơi cuối sông, giáp biển lại được chuyển từ các vùng đồng đất của thượng nguồn sông Mã đổ xuống, càng tạo thêm các yếu tố thuận lợi cho việc du nhập, hội tụ các tôn giáo. Chính vì thế từ xa xưa làng Xuân Phương đã có đầy đủ sắc thái, diện mạo của một làng quê đậm đà bản sắc. Làng Xuân Phương có chùa thờ Phật, có đình Trung thờ Thánh, đền (Nghè) thờ Thành hoàng và có đình của 4 phe (?): Đông – Tây – Khang – Thịnh.

Để t­ưởng nhớ công lao đức trạch của ông, nhân dân các vùng ven biển dâng tấu xin triều đình sắc cho phụng thờ, tôn làm Thành Hoàng của làng để giúp đỡ nhân dân. Nhà vua đồng ý và ban phong cùng lúc cho 12 cửa biển suốt khu vực bắc Miền Trung trở vào đến Quảng Bình để nhân dân đ­ược phụng thờ.

Đến triều đại nhà Nguyễn sau này tiếp tục sắc phong thần Nguyễn Phục.

– Ngày 1 tháng 2 đời vua Minh Mệnh thứ 5(1824), sắc phong ban thêm mỹ tự là Huệ Trạch.

Ngày 3 tháng 4 đời vua Thiêu Trị thứ 4 (1843), sắc phong ban thêm mỹ tự là Huệ Trạch Hoàng Hợp

Ngày 29 tháng 4 đời vua Thiệu Trị thứ 4 (1843), sắc phong ban thêm mỹ tự là Huệ Trạch Hoàng Hợp Quảng nhuận.

Ngày 3 tháng 12 đời vua Tự Đức thứ 3 (1850), sắc phong ban thêm mỹ tự là Huệ Trạch Hoàng Hợp Quảng Nhuận Trác Vĩ thượng đẳng thần.

Ngày 1 tháng 4 đời vua Đồng Khánh thứ 2 (1887), sắc phong gia ban thêm dực bảo trung hưng thượng đẳng thần…

Quả thật vậy, Nguyễn Phục là một danh tướng dưới thời Lê, ông có nhiều công lao to lớn đánh giặc, bảo vệ và mở rộng đất phương nam của Tổ Quốc, ông là người trung hiếu, tiết nghĩa đã giúp cho vương triều Lê xây dựng và củng cố một nhà nước phong kiến Đại Việt vững bền. Trong số các nhân vật lịch sử của đất nước ta vào nửa thế kỷ XV, Nguyễn Phục nổi lên như một nhân vật đặc biệt với sự đóng góp hiệu quả cho đất nước, cho dân tộc để giữ gìn, bảo vệ và mở rộng bờ cõi non sông, cũng như trên các lĩnh vực văn học nghệ thuật, lịch sử, địa lý, khoa cử, giáo dục, những đóng góp đó đã tạo thành những giá trị mang đặc trưng thời đại (thời đại Hồng Đức) để lại ảnh hưởng tốt đẹp cho nhiều thế kỷ mai sau. Nguyễn Phục là một nhà nho uyên bác (nhà khoa bảng Việt Nam) lại vừa là nhà cách tân, nhà giáo dục, là một vị tướng lo việc quân lương. Đối với quê hương Thanh Hóa, ông còn có nhiều kỷ niệm về một vùng mà ông đã từng được bổ nhiệm trông coi. Nguyễn Phục là người thông minh, đĩnh ngộ hơn người, có nhiều công lao đóng góp dưới hai triều Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông.

Đền thờ phúc thần Nguyễn Phục được nhân dân làng Xuân Phương xây dựng từ những năm đầu thế kỷ XVI, có quy mô gồm 5 gian nhà tiền đường, 3 gian nhà trung đường, 3 gian nhà chính tẩm theo hình chữ Tam (≡), hướng Bắc nhìn núi Lạch Trường.

Thứ tự vào Đền ta bước qua cửa nghinh môn 2 tầng xây bằng gạch đỏ, 4 mặt đắp nổi hình các con nạ, con rồng xen lẫn những hàng chim sáo bên cạnh ngũ phụng đề thi, lưu ly chúc tửu, sân lát gạch cẩm rộng 250m 2, nhìn sang hai bên đông, tây là 2 dãy hành lang 12 gian giành cho du khách và dân làng hội hè sinh hoạt, trước nhà tiền đường hai bên đông, tây là hai cột nanh cao sừng sững được đắp nổi 2 câu đối:

“Lân giao hữu đạo thanh xuân hiếu Môn quán vô tư bạch nhật nhàn” “Tượng Lĩnh tây hồi chung thọ mạch Mã giang bác dẫn chấn phong ba”

Bước vào tiền đường, trung đường, chính tẩm ta không khỏi tấm tắc với các trang thiết bị lung linh lộng lẫy được sơn son thếp vàng. Vật liệu xây dựng đền Xuân Phương xưa kia bằng gỗ tứ thiết, ngói cẩm trướng, đá vôi núi Nhồi, hồ vữa cát vôi trộn mật.

Tuy nhiên, những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đền Xuân Phương đã bị tháo dỡ, những hoạt động lễ hội truyền thống lệ làng chỉ còn đọng lại trong trí nhớ của các cụ cao niên.

Ngày 25 tháng 9 năm 1996, được Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định số 217 công nhận đền Xuân Phương, làng Xuân Phương, xã Quảng Châu, huyện Quảng Xương là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Việc tôn tạo để phát huy tác dụng, đáp ứng nguyện vọng tín ngưỡng của nhân dân, được nhân dân trong và ngoài vùng phát tâm công đức. Được nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí. Từ tháng 1 năm 1997 – 1 năm 1999, UBND xã Quảng Châu đã chỉ đạo và tổ chức tiến hành theo quy trình từng bước tiến hành xây dựng lại đền tại nền đất cũ, theo thiết kế đã được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa phê duyệt có tổng hiện tích quy hoạch là 9715m 2, về xây dựng, kiến trúc hoàn toàn theo kiểu dáng đền xưa, hình chữ tam (≡) gồm 3 gian nhà chính tẩm, 3 gian nhà trung đường, 5 gian nhà tiền đường, 2 nhà giải vũ 10 gian, 2 cột nanh trước tiền đường và sân lát gạch 250 m 2 với trang thiết bị nội thất tương đối phong phú: ngai thờ thánh, hương án, bàn thờ bộ hạ, kiệu bát cống, hoành phi câu đối có niên đại từ thời Lê – Nguyễn còn lưu giữ được, đồng thời được bổ sung quân cờ, chấp kích, rìu đồng phủ việt, cờ, lộng, trướng, cây đăng, hạc đồng, lư hương bằng đồng và gỗ được sơn son thếp vàng lung linh lộng lẫy, bảo đảm đầy đủ phục vụ nhạc lễ các ngày tế đại lễ của làng như những năm trước đây.

Tuy vậy so với đền làng xưa, đền Xuân Phương mới tôn tạo lại còn khiêm nhường cả về quy mô, chất liệu, nhưng mọi hoạt động lễ hội lại có phần sâu rộng phong phú hơn.

Kế thừa truyền thống lệ làng xa xưa, hàng năm tại đền làng có các dịp lễ hội sau đây:

1. Tế giao thừa và tế xuân vào ngày mùng 1, 2, 3 tết Nguyên Đán. Thường lệ hàng năm cứ làng nổi trống tế giao thừa là nhân dân trong làng, đua nhau ra đền dâng hương hái lộc.

2. Tế Cầu phúc vào ngày mùng một, mồng 2 tháng hai Âm lịch. Chiều ngày 30 già trẻ, gái trai tụ họp về đền tổ chức rồi cờ dong trống mở, khiêng kiệu, múa lân, vác quân cờ, các cụ ông, cụ bà, các tầng lớp nhân dân quần áo, khăn mũ đủ màu sắc rực rỡ đi theo nhịp trống, điệu lân. Rước Thần Đông Hải Đại Vương quanh làng, quanh xã, 0 giờ ngày mùng 1 làng tế phụng nghinh (rước thần ra tiền đường) để sáng mùng 1 tế Cầu phúc. Ngày mùng 1, mùng 2 thường có 4 đến 5 bản hội tế thần, còn lại 15- 20 bản hội dâng lễ, dâng hương, các cá nhân, hộ gia đình cũng lần lượt dâng hương cầu nguyện trong những ngày làng lễ hội. Cũng tại sân đền, tế Cầu phúc làng có tổ chức văn nghệ, đánh cờ, đánh bóng, chọi gà, kéo co (thi và có thưởng).

3. Tế Thanh minh vào ngày mùng 3 tháng 3 Âm lịch. Các bậc tiền nhân trong làng truyền lại: ngài Nguyễn Phục chọn ngày thanh minh mùng 3 tháng 3 làm lễ khao quân, rồi xuất trận tại sông bến huyện, cánh đồng lúa trước làng hiện nay xưa kia là đầm sú vẹt ăn liền ra cửa Hới. Lễ vật tế Thanh minh để khao quân xuất trận có lợn nguyên sinh, cá thu nướng, trứng vịt sống, gạo nếp, gạo tẻ (tất cả được đựng trong sọt tre đan) để sẳn sàng tế thần xuất kích.

4. Tế ngày linh hóa vào ngày 16 tháng 4 Âm lịch (ngày giỗ), ngày hóa tiên, phong thần (linh đạo hiển ứng ).

5. Tế Trung thu cầu hòa (lễ vật có xôi gà và trà hoa quả ngọt) vào ngày mùng 8 tháng 8, cầu cho mưa thuận gió hòa, sâu bệnh ít sinh sôi, mùa màng bội thu, dân tình yên ổn.

Ngoài 5 ngày tế đại lễ còn có ngày lễ (Bụt sinh mùng 8 tháng 4), tết Đoan Ngọ ngày 5 tháng 5 Âm lịch.

6. Tế Đảo vũ Cầu mưa: Nếu năm nào hạn hán kéo dài, chọn ngày lành tháng tốt, phụng nghinh thần ra tiền đường, rước kiệu quanh làng về đến tế lộ thiên.

7. Lễ sóc vọng mỗi tháng 2 lần vào sáng mùng 1 và 15.

Trong tâm thức của nhân dân vùng biển nói chung, nhân dân làng Xuân Phưong, xã Quảng Châu, huyện Quảng Xương nói riêng, họ luôn ý thức về biển cả như một hiện tượng thần biển mà Đông Hải Đại Vương là con người chỉ thần phục.Vì vậy tôn thờ Đông Hải Đại Vương để họ được che chở cưu mang đem lại cuộc sống bình yên cho họ.

Ngưỡng mộ về biển chinh phục biển còn được họ gửi gắm bằng hình tượng phúc thần Nguyễn Phục. Đông Hải Đại Vương vốn là một nhân vật lịch sử, ông đã trở thành một con người của huyền thoại, sống động trong đời sống tâm linh của người ven sông, ven biển xứ Thanh, trong đó có làng Xuân Phương.

DI TÍCH LỊCH SỬ, CÁCH MẠNG

ĐỊA ĐIỂM CÂY ĐA LÀNG SI

(Xã Quảng Chính)

Cách Thành phố Thanh Hóa khoảng chừng 20km, qua cầu sông Lý, trên đường Quốc lộ 1A trên đường từ Bắc vào Nam, quý khách hãy dừng chân tới thăm địa điểm Cây Đa làng Si, một di tích lịch sử cách mạng. Nơi đây vào ngày quốc tế lao động 1 tháng 5 năm 1931, trên ngọn Cây đa làng Si (nay là làng Ngọc Diêm) xã Quảng Chính huyện Quảng Xương, lá cờ đỏ búa liềm tung bay phấp phới trên bầu trời đánh dấu một chặng đường phát triển của phong trào cách mạng huyện Quảng Xương.

Vùng đất Quảng Chính ngày nay, từ xa xưa là lưu vực miền hạ lưu sông Yên phía bên tả ngạn, là điểm tận cùng của các dải cồn cát ven biển phía Đông kéo dài từ cửa Hới đến cửa Hàn (cửa sông Ghép); về phía Tây là các dãy cồn cao thuộc phía Tây huyện; ở giữa là vùng đất thấp trồng lúa nước, rau màu. Lưu vực miền hạ lưu này là bãi triều vùng nước lợ thích hợp cho việc làm muối và nuôi trồng hải sản.

Theo Bản xã linh thần tích trí (sự tích linh thần làng ta) còn lưu giữ lại cho biết: ” vào khoảng đời vua Trần Anh Tông (1293 – 1314), tại làng trang Ngọc Giáp thuộc tổng Thủ Chính, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, Trấn Thanh Hóa có 3 người là Trịnh Đình Nguyên, Lê Viết Phú, Hoàng Công Thục gia tư hào phú cùng với cư dân trong vùng tự lập ra một khu ấp ở phía bắc Ngọc Giáp “. Vùng đất này xưa còn hoang vu, lau lách, cây cối mọc um tùm, bãi lầy đất thụt, đất nước chua mặn… Thế rồi đất lành chim đậu, từng đoàn người già, trẻ, gái, trai gồng gánh cái gia tài nhỏ bé của mình cùng với những dụng cụ sản xuất thụ sơ theo các triền sông, dọc bờ biển từ nhiều nơi đổ về miền đất mới để tìm cách mưu sinh, lập nghiệp.

Vào thời Hậu Lê khoảng thế kỷ XV, ấp Ngọc Giáp là một vùng rộng, sau này là các làng Đa, Si, Phú, Bồ. Đầu thế kỉ XIX đến đời Đồng Khánh là xã Ngọc Giáp, tổng Thủ Hộ; Sau năm 1945 là xã Hoa Lư. Năm 1947 xã Hoa Lư sát nhập với xã Ký Con và xã Lý Thường Kiệt thành xã Quảng Chính (lớn) gồm 5 xã: Quảng Chính, Quảng Trung, Quảng Khê, Quảng Thạch, Quảng Nham.

Xã Quảng Chính nay gồm 6 làng:

– Làng Đại Đồng thành lập từ cuối thế kỉ XVI mang tên Đại Lộc;

– Làng Chính Đa thành lập đầu thế kỉ XV với tên gọi Giáp Đa;

– Làng Thanh Xuân thành lập vào thế kỉ thứ XVI;

– Làng Phú Thiện thành lập vào thế kỉ thứ XVI;

– Làng Ngọc Diêm I và Ngọc Diêm II, tương truyền ông Nguyễn Hữu Trình đến lập nghiệp đầu tiên vào năm 1488 lấy tên là làng Si sau đổi thành làng Ngọc Diêm.

Làng Ngọc Diêm phía Bắc giáp sông Lý, phía Nam giáp làng Đa, làng Xuân, phía Tây giáp làng Phú, phía Đông giáp làng Bồ và dòng sông Ghép uốn quanh. Làng có tổng diện tích đất tự nhiên là 827.000m 2, trong đó đất nông nhiệp là 696.340m 2, đất làm muối là 40.500m 2. Diêm dân làng Si mỗi năm sản xuất ra hàng nghìn tấn muối cung cấp cho mọi nơi trong huyện, trong tỉnh. Và tên làng Ngọc Diêm có từ đây. Những hạt muối làm ra được quý như ngọc. Cũng như bao làng quê khác, làng Ngọc Diêm cũng có cây đa, giếng nước, sân đình, có một quần thể di tích phong phú, có cồn chùa phía Bắc cách chân núi Eo chừng 100m thuộc đất làng Bồ, trên cồn có chùa nên gọi là cồn Chùa. Nghè Thánh Cả ở phía Đông tôn thờ tứ vị Thánh Nương. Làng có 4 giếng nước xây bằng đá, có đình làng, điếm canh, có Văn chỉ, cạnh Nghè trước có chợ họp gọi là chợ Bìa, chợ Đồn, sau này là chợ Ghép. Ở địa điểm giáp thôn Đa ngay cạnh đường cái cũ có một nhà bia nên đoạn đường này xưa được gọi là đường cái Bia, chỉ cách đò Ghép xưa khoảng 300m. Vào đầu thế kỉ thứ XX, thực dân Pháp thống trị có lập đồn Đoan nắm quyền về muối và rượu, ngoài ra còn để khống chế phong trào cách mạng ở phía Nam huyện. Tại nơi đây, làng Ngọc Diêm trên một đoạn đường cái chính xứ, con đường thiên lý Bắc – Nam (hiện nay là Quốc lộ 1A) tại km 20 Thanh Hóa – Ghép có cây đa cổ thụ, có quán Bà Thì, xưa khách bộ hành hay dừng chân nghỉ lại (theo Hoàng Triều nhất thống địa dư chí).

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập ngày 29 tháng 7 năm 1930 ở Yên Trường – Thọ Xuân. Tháng 1 năm 1931, hội nghị Đảng bộ tỉnh họp tại làng Hồ Thượng – Tĩnh Gia đã bầu được Ban chấp hành lâm thời Tỉnh Đảng bộ, đồng chí Ngô Đức Mậu được bầu làm Bí thư, đồng chí Phạm Tiến Năng (Quảng Xương) được bầu vào Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ, phụ trách khu vực huyện Quảng Xương. Vùng phía Nam huyện Quảng Xương lúc này, là nơi có phong trào cách mạng phát triển mạnh và lại ở gần đồn Đoan. Từ năm 1927 đến năm 1931, cũng tại vùng phía Nam huyện Quảng Xương, các hội Tương tế Ái hữu, hội Dệt, hội Hiếu – Hỉ, hội lợp nhà, hội bóng đá… được thành lập để tập hợp quần chúng và đã giác ngộ được một số bạn tâm huyết làm nòng cốt tuyên truyền vận động cách mạng. Thực hiện chỉ thị của Xứ ủy và chủ trương của Tỉnh Đảng bộ về công tác các hội quần chúng, treo cờ búa liềm, rải truyền đơn… Đồng chí Phạm Tiến Năng, Nguyễn Văn Giảng đã xúc tiến việc tuyên truyền vận động quần chúng, nắm lấy các tổ chức quần chúng, công khai hoạt động. Các đồng chí đã ra sức tuyên truyền, giác ngộ những thanh niên, học sinh tiến bộ lúc bấy giờ là Đới Xuân Lữ, Bùi Văn Hiệt ở Ngọc Giáp.

Để hình ảnh lá cờ đỏ búa liềm tung bay trên ngọn cây đa sống mãi cùng chúng ta, ngày 31 tháng 1 năm 2009 Thường trực Huyện ủy Quảng Xương cùng với Đảng ủy xã Quảng Chính, tổ chức chuyển một trong số 2 cây đa của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trồng lưu niệm tại cơ quan Huyện ủy về trồng tại khu di tích lịch sử cách mạng làng Ngọc Diêm xã Quảng Chính.

Ngày 16 tháng 11 năm 2010, thường trực Huyện ủy cùng với lãnh đạo xã Quảng Chính đã tổ chức khởi công công trình tưởng niệm sự kiện lịch sử cách mạng quan trọng này.

(Xã Quảng Đại)

Đình Mỹ Lâm thuộc làng Mỹ Lâm, xã Quảng Đại, huyện Quảng X­ương, Tỉnh Thanh Hóa, nằm cách Thành phố Thanh Hóa 15 km (Theo đ­ường chim bay) về phía Đông Nam.

Theo gia phả dòng họ Phạm Văn, năm (1681) đời vua Lê Hy Tông, ông tổ dòng họ Phạm Văn, tên tự là Huệ Giác là ng­ười gốc làng Vệ Giữa, xã Quang Tiền (Thuộc xã Quảng Đức ngày nay) làm quan trong triều, giữ chức Tri phủ Hoài Nhân (Hà Tây cũ), khi về h­ưu, ông đư­a vợ con xuống dựng nhà, sinh cơ lập nghiệp tại làng – nơi ông ở là dải đất Ma Hang, nhân dân còn gọi là Mả Hạng.

Đình lúc mới xây gồm ba gian: Tiền đường, phía sau là một nhà Hậu cung hai gian, thiết kế theo hình chữ “Đinh”, bằng tre nứa tạm bợ. Đồ tế khí trong đình còn đơn điệu nh­ưng dân làng vẫn hương khói th­ường xuyên. Việc cúng tế, thờ tự đ­ược theo lễ quốc khánh, phương pháp tế lễ phải tuân theo phép điển. Năm Bảo Đại thứ 4 (1929) đình lại đ­ược trùng tu tôn tạo lại với quy mô lớn mang kiểu dáng kiến trúc của thời Nguyễn và tọa lạc trên một khu đất bằng phẳng, vượng khí, quay mặt h­ướng chính nam “Đại cát”. Nằm ngay giữa trung tâm làng Mỹ Lâm, phía sau là ngã ba kênh, nơi hợp l­ưu của ba dòng n­ước lớn Tây – Đông; Bắc – Nam; Nam – Bắc để rồi cùng đổ ra sông Đồng Rào (xưa còn gọi là sông Vạn Lịch) nằm ở phía đông của ngôi đình.

Ngôi Tiền đường 5 gian nằm ở phía tr­ước đ­ược làm bằng gỗ tứ thiết, hai hàng cột cái có đ­ường kính 0,45m. R­ường mái, hoành tải toàn bằng gỗ lim xẻ, mái lợp ngói mũi hài; đầu đốc uốn cong hình long đao, giữa nóc đắp hình ” Lư­ỡng long chầu nhật“. Gian chính giữa có một bức đại tự lớn, hai hàng cột giữa có đôi liễn đ­ược sơn son thếp vàng rực rỡ.

Thời kỳ này, đồ khí tế đã khá phong phú: Long cung, ỷ, bài vị, giá gươm, 8 cây tàn lộng từ lớn đến nhỏ cùng với đôi “Quạt cò” được tết bằng lông chim quý mầu sắc lộng lẫy, ống đựng h­ương, đế đèn, nậm r­ượu lớn nhỏ phần lớn được tiện bằng gỗ h­ương. Nhiều đồ gốm sứ quý đ­ược vẽ trang trí hình rồng, ph­ượng, mô tả các tích cổ. Hai bên Tả – Hữu là dàn ” Bát bộ binh khí” cùng với thẻ lệnh bài ngà càng làm tăng thêm vẻ tôn nghiêm của chốn hậu cung. Đặc biệt, hiện nay vẫn còn nguyên vẹn bộ Triều phục của quan Thiếu khanh như­: Mũ cánh chuồn, áo gấm, hia, hài và bộ đòn kiệu bát cống dài 8m phỏng theo hình rồng uốn khúc.

Nghi thức tiếp theo là phần dâng hư­ơng, tế bái theo nghi lễ đó quy định. Các lễ vật dâng lên đều đư­ợc kiểm tra cẩn trọng.

Sau phần tế lễ là phần hội. Tùy theo tiết thời xuân – hạ – thu – đông để tổ chức các trò vui nh­ư: Đánh đu; Vật giải, Kéo co, hoặc mời phường bội, rối hát về diễn x­ướng có khi kéo dài hàng ba, bốn ngày liền.

Ngoài những giá trị về văn hóa, lịch sử, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đình Mỹ Lâm là nơi ngày đêm dân quân, du kích tập luyện. Và đây cũng là nơi tập kết vũ khí, súng ống đạn d­ược, quân lương của bộ đội ta trư­ớc khi vào Nam chiến đấu; là nơi diễn ra các cuộc họp công khai (và cả bí mật) của Ủy ban kháng chiến, nơi tập trung đưa tiễn các đoàn dân công, các đợt thanh niên tòng quân lên đường ra tiền tuyến, cũng là nơi đặt các lớp bình dân học vụ của địa phương trong thập kỷ 30 đến 50 của thế kỷ XX; Đặc biệt hơn, đây còn chính là nơi thành lập tổ Đảng đầu tiên (Tiền thân của chi bộ và là Đảng bộ xã Quảng Đại ngày nay).

Trư­ớc kia, sân đình có cây vông cổ thụ cao khoảng 25m, gốc to khoảng bốn ng­ười ôm, tán rộng, chiếm gần cả một sào đất thư­ờng được sử dụng làm chòi canh gác và phát thanh, thông tin tin tức cho cả một vùng. Năm 1972, do yêu cầu về sự nghiệp giáo dục của địa phương, cây vông cổ thụ này đã đ­ược hạ xuống, ngôi tiền đ­ường cũng đã bị phá dỡ cùng với các đồ thờ quý cũng bị đập phá h­ư hỏng và mất mát gần hết. Đến năm 1980, bằng sự đóng góp tự nguyện của con cháu trong họ, trong làng, đình đã được khôi phục lại. Nhà Tiền đường đ­ược xây dựng lại bằng bê tông cốt thép, đồ khí tế đ­ược s­ưu tầm, mua sắm bổ sung mới phỏng theo quy cách cũ. Cũng năm 1980, khu miếu đá thờ cụ Tổ ở Ngã ba Kênh cũng đ­ược quy tập về trong khuôn viên, bên cạnh đình, tạo thành một quần thể di tích của cha ông. Năm 1981, con cháu trong họ lại đóng góp xây sửa khuôn viên, t­ường rào, cổng ngõ với số kinh phí gần 10 triệu đồng.

Ngày 30 tháng 8 năm 2006, đình Mỹ Lâm đã đư­ợc nhà n­ước xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 2382/QĐ-UBND. Và cuối năm 2009, đình lại được nhà n­ước hỗ trợ kinh phí để tu sửa, chống xuống cấp khu nhà Hậu cung với tổng số kinh phí lên đến hàng trăm triệu đồng.

Cùng với quá trình hình thành và phát triển quy hoạch du lịch Nam Sầm Sơn, Ban Quản lý di tích cùng với chính quyền địa ph­ương đang từng b­ước hoàn thiện ph­ương án tổ chức quản lí, khai thác hoạt động du lịch, lễ hội tại di tích nhằm phát huy những giá trị của nó trong việc phát triển kinh tế – xã hội của địa phương trước mắt cũng như lâu dài.

ĐỀN THỜ ĐÔNG HẢI ĐẠI VƯ­ƠNG NGUYỄN PHỤC

(Xã Quảng Đại)

Đền thờ Đông Hải Đại Vư­ơng – Nguyễn Phục còn có tên gọi là Đền thờ quan Hoàng Giáp, hay Đền đức Thánh tôn thần. Ngôi đền được xây dựng trên khoảnh đất ven biển xã Quảng Đại, huyện Quảng X­ương, cách Thành phố Thanh Hóa khoảng 15km về phía Đông Nam.

Việc thờ phụng thần Đông Hải Đại vương, cư dân ở vùng 12 cửa biển từ Thanh Hóa trở vào đến Quảng Bình đều thờ phụng. Ở tỉnh Thanh Hóa có 59 xã thôn thờ Đông Hải Đại vương. Riêng huyện Quảng Xương trước đây có 13 nơi thờ, gồm: Thôn An Vệ, thôn Trường Tân, thôn Hòa Bình, thôn Bào, thôn Cam Bào, xã Tần Các, xã Phú Xá, xã Đa Lộc, thôn Đông Quang, thôn Tiên Trang, xã Triều Dương, xã Xuân Phương, xã Trường Lệ.

Về sự tích tôn thờ thần Đông Hải Đại vương ở làng Phú Xá, xã Quảng Đại được truyền lại như sau: Ngôi đền thờ Nguyễn Phục xưa kia đ­ược xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XVI tại khu vực Đình Trống, cách ngôi đền hiện nay khoảng 200m về phía Bắc. Lâu ngày, ngôi đền bị hư­ hỏng hoàn toàn. Một thời gian dài sau đó, (khoảng đầu thế kỷ XVII), có ng­ười ở làng Phú Xá làm nghề đẩy kheo đánh moi, một hôm ra biển đẩy kheo thì có khúc gỗ lạ (nguyên là gỗ của Đền thờ Đông Hải Đại v­ương đã bị dỡ bỏ) chui vào túi súc, ông liền đổ ra rồi vác kheo sang quãng khác để đánh tiếp thì lại nhìn thấy khúc gỗ kia trôi ngay tr­ước mặt. Ông lại tiếp tục vác kheo tránh đi một lần nữa, không ngờ, khi nhấc túi súc lên thì khúc gỗ nọ lại đã nằm gọn trong túi l­ưới. Thấy lạ, ông liền quảy cả súc kheo cùng khúc gỗ kia đem về. Trên đ­ường về nhà nghĩ ngợi thế nào ông vứt bỏ khúc gỗ xuống vệ đường. Không ngờ, chỉ sau một đêm, khúc gỗ kia đã bị mối bắt ăn hết và đùn lên thành một tổ mối to. Cho là có điềm linh ứng, dân làng đã lập lên ngôi miếu thờ Đông Hải Đại vương. Cùng thời gian này, ông Cao Đăng Khoa người làng Phú Xá, học hành đỗ đạt và được làm quan trong triều, đã chu cấp tiền bạc, nhân dân trong làng góp công sức xây dựng ngôi đền tại làng Phú ngày nay.

Đền thờ Đông Hải Đại vư­ơng – Nguyễn Phục tại làng Phú Xá được xây dựng ở một gò đất cao ráo ở vị trí trung tâm của làng, cạnh đường tỉnh lộ 4C. Đền tọa lạc h­ướng chính Nam, cấu trúc theo hình chữ “Đinh”, gồm ngôi tiền đường (3 gian) và ngôi chính tẩm (2 gian), giữa 2 ngôi đư­ợc ngăn cách bởi một sân hẹp. Ngoài ra, còn có bái đường (sân đền) và cổng vào đền có đề 3 chữ Hán: “Tối Linh Từ”, có nghĩa ngôi đền thờ rất linh thiêng.

Nhà tiền đ­ường có chiều dài 8,3m; Chiều rộng 5,7m. Kết cấu vì theo kiểu giá chiêng, kẻ chuyền, kẻ bẩy tr­ước sau. Nghệ thuật chạm khắc và trang trí đơn giản. Nhà chính tẩm (2 gian) có chiều dài 5,93m, chiều rộng 3,72m. Giữa tiền đ­ường và chính tẩm có một sân hẹp rộng 2,84m, chiều dài chạy dọc theo tiền điện là 8,3m.

Trong đền thờ còn lưu giữ được một số hiện vật cổ như­: Long ngai, giao ỷ gỗ chạm khắc (Thế kỷ XVII); Thần vị Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục cao 1, 25m, rộng 0,30m đ­ược sơn son, thếp vàng.Trong lòng thần vị có hàng chữ đề: ” Đông Hải Đại v­ương – Tướng quân Lê Triều, Tiến sỹ danh thần đặc tiến….. Thái Bảo Thần vị “. Tượng Võ sĩ đứng chầu được bài trí hai bên tả – hữu hậu điện. Ngoài ra, còn có hai đôi câu đối bài trí trong đền.

“Khoa giáp ức niên l­ưu Việt quốc

Miếu đ­ường thiên cổ lãm thần uy”

Tạm dịch: Khoa giáp vạn năm l­ưu nư­ớc Việt

Miếu đ­ường nghìn thuở vẫn lẫm liệt uy danh bậc thần.

“Vạn đại thần từ tồn tại bản

Thiên niên phụng sự phúc ph­ương dân”.

Tạm dịch:

Vạn đời đền thờ Thần vẫn tồn tại trong bản xã

Nghìn năm phụng thờ thần để phúc lại muôn dân.

Ở chính điện có bức y môn, trên bức y môn là bức đại tự “Thánh cung vạn tuế”. Trong đền, các đồ tế lễ nh­ư trang phục, tàn lộng, bát bộ binh khí… Đặc biệt, 2 bên tả hữu vẫn còn giữ đ­ược các bộ câu đối, một hòm sắc lớn ngày xư­a có tới 10 đạo sắc, nay chỉ còn giữ đ­ược có 2 đạo sắc.

Việc tế tự theo điển phép, hàng năm có 2 ngày lễ trọng: Mùng Một tháng Giêng và ngày giỗ kết hợp với lễ Cầu Ngư vào ngày 16 tháng 4 (âm lịch). Trư­ớc khi tế lễ, các vị cao niên trong làng cho chồng kiệu và bài vị của các vị thần chủ tr­ước sân đền để làm lễ “Mộc dục” (tắm rửa đồ thờ). Sau đó r­ước linh vị Thần chủ đi xuống chùa Đồng Bông rồi trở về đền. Đội hình rước gồm có kiệu, tàn, lộng, tiếp đến là đội hình bát âm, thanh la chiêng trống. Sau cùng là già trẻ, gái trai trong làng ngoài xã nối thành một hàng dài.

Nghi thức tế lễ được cử hành theo cuộc đại tế. Lễ vật dùng để dâng cúng đư­ợc kiểm soát rất cẩn thận.Vào ngày 16 tháng 4 hàng năm còn tổ chức lễ cầu ngư­, nhân dân mua sắm lễ vật, làm thuyền “đầu rồng đuôi cá”, cùng các sính lễ, thức cúng nh­ư thịt sống, gạo, muối, trầu r­ượu, thanh bông hoa quả để cúng tế. Sau phần tế, làng cử ra một chủ thuyền vừa ngư­ dân giỏi, vừa là ng­ười có uy tín, gia đình không có đại tang hay tiểu cớ để chở thuyền rồng ra tận ngoài” ba hàng sóng” để thả thuyền, khấn xin “Ngài” phù hộ độ trì cho ngư­ dân khai thác đánh bắt trên biển gặp nhiều may mắn.

Sau phần lễ là phần hội, tùy theo tiết thời Xuân – Hạ – Thu – Đông để tổ chức các trò vui như: Đánh đu; Vật giải, Kéo co, hoặc mời ph­ường bội, rối hát về hát múa, tổ chức các trò vui cho nhân dân có khi kéo dài đến ba, bốn ngày liền.

Trải qua những biến cố thiên nhiên, lịch sử, đền thờ Đông Hải Đại vương bị xuống cấp nghiêm trọng. Một số đồ thờ cũng bị h­ư hỏng và mất mát. Đến năm 1982, ngôi đền thờ được trùng tu tôn tạo bằng sự đóng góp tự nguyện của nhân dân trong vùng và kinh phí ngân sách địa phương. Đến ngày 23 tháng 3 năm 1999, Đền thờ Đông Hải Đại vương xã Quảng Đại được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh theo Quyết định số 96/QĐ-VHTT. Từ đó, hàng năm, nhân dân trong vùng vẫn th­ường xuyên đóng góp, tu bổ, sửa chữa và mua sắm thêm các đồ khí tế. Cuối năm 2008, đền lại đ­ược nhà n­ước hỗ trợ kinh phí để tu sửa, nâng cấp khu nhà hậu cung với tổng số kinh phí lên đến hàng trăm triệu đồng.

Từ bao đời nay, tín ng­ưỡng tôn thờ thần Đông Hải Đại vương được người xưa tôn sùng, đời nay ngưỡng mộ và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cư dân ven biển, trong đó có cư dân làng Phú Xá, xã Quảng Đại, huyện Quảng Xương. Trong tương lai không xa, khu du lịch Nam Sầm Sơn đ­ược mở ra, đền thờ Đông Hải Đại vương Nguyễn Phục ở làng Phú Xá, xã Quảng Đại chắc chắn sẽ là điểm thu hút du khách tham quan chiêm ngưỡng.

NHÀ THỜ DÒNG HỌ THỪA

NƠI THỜ THỪA VĂN MÔNG

(Xã Quảng Đại)

Nhà thờ họ Thừa xã Quảng Đại, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa thờ Tướng quân Thừa Văn Mông và các bậc tiên hiền dòng họ Thừa. Nhà thờ họ Thừa nằm ở trung tâm làng Thủ Phú. Làng Thủ Phú được thành lập từ đầu thời Nguyễn với tên gọi là xã Phú Xá, gồm một phần đất phía Đông sông Rào của các xã Quảng Hùng, Quảng Hải và toàn bộ xã Quảng Đại, được tách ra, lập thành các làng Hải Nhuận, Yên Nam (nay thuộc xã Quảng Hải), phần còn lại đổi thành làng Thủ Phú, tổng Thủ Hộ.

Theo những tài liệu cổ và gia phả dòng họ Thừa thì tướng quân Thừa Văn Mông (chưa rõ quê gốc) khi đến trấn nhậm ở Phú Xá là tổ đời thứ nhất, trước đó cụ đã được phong chức Bách hộ trong đội thủy binh chủ lực bảo vệ vùng biển, sau này là người có công lao trong việc bảo vệ vùng biển và xây dựng trang ấp Phú Xá cho đến năm Nhâm Dần (1782), lại có công đưa thuyền và dân binh tham gia dẹp loạn, giúp nhà vua kế ngôi vua, nên xét công phong là Tráng tiết tướng quân, hiệu lệnh Tư suý kiêm tráng sĩ, Thiết kị uý, phó Thiên hộ trung liệt.

Hiện nay, tại nhà thờ họ Thừa còn lưu giữ một số tư liệu, cổ vật quý giá, đó là:

Đạo sắc phong thời Lê năm Cảnh Hưng thập tứ niên, nhị nguyệt, nhị thập lục nhật (1784) phong tặng tướng quân Thừa Văn Mông tham gia các chuyến thuyền nan của quân đội triều đình vào năm Nhâm Dần, có công lao lớn, được phong Tráng tiết tướng quân, hiệu lệnh Tư suý kiêm tráng sĩ, Thiết kị uý, phó Thiên hộ trung liệt.

Đạo sắc phong thời Nguyễn năm Khải Định cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhật (25/7/1924) ghi: ” Sắc Thanh Hóa tỉnh, Quảng Xương huyện, Thủ Phú xã, Trường Minh giáp vâng lệnh thờ phụng Tráng tiết tướng quân, Khâm kị uý Thừa Văn Mông phủ quân tôn thần… lại gia tặng thêm mỹ tự là bậc thần Dực bảo trung hưng linh phù. Cho phép các thôn xã trên phụng thờ để thần ngầm giúp dân”.

Nội dung bức thần chủ cổ viết cháy trên gỗ cho biết ông được phong Tráng tiết tướng quân, Khâm kị uý Thừa Văn Mông phủ quân tôn thần, nhân việc nhà vua nhớ về công lao của thần thăng lên một bậc. Tặng thêm mỹ tự là bậc thần Dực bảo trung hưng linh phù. Cho phép thôn xã phụng thờ thần để thần ngầm giúp dân.

Theo truyền ngôn của dòng họ, nhà thờ họ Thừa được triều đình cấp tiền xây dựng vào cuối thế kỷ XVIII, uy nghiêm bề thế, khuôn viên rộng rãi, gồm trung đường và hậu cung, hai bên là 2 dãy nhà dải vũ, cổng được xây 4 trụ biểu, sau cổng vào là bức bình phong kiểu cuốn thư, tường rào vây xung quanh di tích.

Các cổ vật bằng gỗ còn lại như: 2 cỗ long ngai, 1 thần vị, 1 thần chủ, 2 thanh kiếm thờ, 1 khay mịch, 1 hộp đựng sắc, 3 đài rượu nhỏ, 3 đài rượu to, 1 mâm bồng, 2 chân nến, 1 văn án, 2 chân nến, 2 ống hương, bộ chấp kích, 2 biển danh thần.

Cổ vật đồng gồm có 1 chuông thờ, 1 thanh la, 1 tẩu đồng, 1 khóa cửa. Cổ vật chất liệu sứ có 1 lư hương, 6 chiếc đĩa, 5 chiếc bát, 2 nậm rượu.

Do ảnh hưởng của thời gian, nhà thờ bị đổ nát. Những năm cuối thế kỷ XX, con em dòng họ Thừa đã tôn tạo lại nhà thờ trên nền đất cũ, quay mặt hướng Đông, kiến trúc kiểu chuôi vồ, với 3 gian trung đường và 2 gian hậu cung. Tiền đường dài 7m, rộng 4,5m, vật liệu xây dựng bê tông cốt thép, mái được trang trí lưỡng long chầu nhật. Hậu cung xây cấp 4, trốn cột, phân gian bằng vì kèo gỗ, bộ mái bằng hàng hoành tải và li tô bằng gỗ tứ thiết, đây là những vật liệu của nhà thờ cũ còn lại. Thượng lương không ghi mộc văn, mái lợp ngói. Nhìn chung, nhà thờ họ Thừa, dù mới được xây dựng bằng vật liệu hiện đại, chưa được phù hợp với kiểu kiến trúc truyền thống, nhưng vững chắc, phù hợp với khí hậu vùng biển, không gian nội thất thoáng mát.

Hàng năm, cứ đến ngày 16 tháng Giêng, là ngày kỵ nhật của Mông Phủ Quân Tôn Thần, con cháu dòng họ Thừa từ các nơi cùng nhân dân xã Quảng Đại tổ chức lễ giỗ tại nhà thờ theo điển lễ của triều đình xưa kia quy định, con cháu trong họ làm lễ tế, các quan sở tại chứng kiến và làm lễ dâng hương.

Phát huy truyền thống của các bậc tiền nhân, nhân dân xã Quảng Đại cùng con cháu dòng họ Thừa qua các thời kỳ lịch sử, đều có nhiều đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quê hương Quảng Đại tươi đẹp như ngày nay.

TỪ ĐƯỜNG HỌ TRẦN

(Xã Quảng Đức)

Xã Quảng Đức thời Lê được gọi là xã Quảng Tiền, tổng Thái Lai, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, sau năm 1945 được gọi là xã Quảng Đức, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Từ năm 1945, xã Quảng Đức gồm các làng: Hà Trung, Phú Đa, Quang Tiền, Tiền Thịnh, Thần Cốc. Các làng Hà Trung, Phú Đa từ đầu thời Nguyễn đã xuất hiện các tên gọi này, với quy mô là thôn thuộc tổng Thái Lai. Tại làng Phú Đa hiện nay vẫn còn lưu giữ Từ đường họ Trần, ngôi nhà cổ có kiến trúc nghệ thuật độc đáo từ thời Lê Trung hưng.

Ngôi từ đường họ Trần thôn Phú Đa, xã Quảng Đức, huyện Quảng Xương được xây dựng từ thế kỷ XVIII, mang đặc trưng phong cách kiến trúc thời Lê Trung hưng là nơi thờ các nhân vật lịch sử như: Bách hộ Phấn lực Tướng Quân Trần Công Ích, Bách hộ Phấn lực Tướng Quân Trần Công Khương, Tri huyện Quảng Xương Trần Trọng Giảng. Đặc biệt ông Trần Trọng Giảng có hai sắc phong của triều Tây Sơn còn lại đến ngày nay.

Từ đường họ Trần thôn Phú Đa xã Quảng Đức, huyện Quảng Xương tọa hướng Đông, nằm giữa thôn (làng) Phú Đa xã Quảng Đức. Từ đường là ngôi nhà cổ 3 gian được xây dựng những năm cuối thế kỷ XVIII, đến nay kiến trúc còn khá nguyên vẹn. Trong từ đường còn có tư liệu Hán – Nôm, phần đồ thờ khá phong phú như: sập hương án gỗ cổ, long ngai, giao ỷ, bài vị.

Nhà từ đường là công trình kiến trúc cổ thời hậu Lê, thế kỷ XVIII. Ban đầu là nhà cấu kết vì 2 đầu có 6 cột (hai cột cái, hai cột quân, hai cột hiên) hai vì giữa có 4 cột (hai cột quân, hai cột hiên trốn hai cột cái) phía trước có 3 chuồng cửa bức bàn cổ, ba mặt (hai hồi và phía sau), rường gỗ (liệp bản), vách đố lụa. Đến năm 1990, phần gỗ bị mại ở chân nên sửa chữa và cho xây 3 mặt (hai hồi và tường hậu), tháo dỡ hệ thống cột hiên sau, xây dựng tường bao giữa cột (cột cũ)

Hệ thống vì: cả 4 vì đề hệ thống kẻ bảy, kẻ truyền trước và sau, ở móc 4 vì đề là chồng rường giá chảy. Kiến trúc Từ đường họ Trần mang đậm nét kiến trúc truyền thống thế kỷ XVIII, toàn bộ kẻ bảy được soi chỉ cầu kỳ kẻ chạm tứ quý và các lá, hoa, vân, mây. Các điểm tiếp giáp cấu kiện như kẻ thượng, kẻ giữa, xà, đầu cột có chạm khắc tinh xảo, tự nhiên, chau chuốt.

Hệ thống vì nóc có kết cấu kiểu giá chiêng, chồng rường, nét chạm khắc mềm mại, uyển chuyển. Từ câu đầu lên nóc, nét chạm uốn lượn như cánh chim đang bay. Các đấu kê trên lưng giá chiêng chạm hình cánh sen, tiếp đến gối đỡ thượng lương hình mỏ vẹt chạm. Ở gian giữa bụng câu đầu và bụng quá giang soi chỉ nét kép cầu kỳ, qúa giang được soi chỉ cả ba mặt: 2 mặt bên và phần bụng. Các vì liên kết với nhau bởi hệ thống xà đại, xà thượng và xà con. Các xà dọc ngang soi chỉ hai mặt, đầu quá giang chạm lá vân mây uốn lượn vắt xuống đầu nghê, tạo nét uyển chuyển, gắn kết với nhau.

Từ hai hồi long lên bụng câu đầu còn giữ nguyên vách đố lụa, ván nong dựng dưới bụng xà lòng chạm trổ các họa tiết tinh xảo. Phần trước và sau ở đầu cột quân còn nguyên vẹn 6 bức xuân hoa, phía trước là bức xiên hoa con tiện xen kẽ các ô ván, phía sau là bức xiên hoa kiểu hoành phi khắc chữ Hán.

Các cụ cao niên cho biết, Từ đường đã có từ lâu đời, thời gian xây dựng có lẽ vào năm 1737. Qua đặc điểm kiến trúc và chạm khắc trang trí, hiện vật cổ như đồ thờ, bình hương, long ngai, chúng ta có thể kết luận đây là kiến trúc đặc trưng thời Hậu Lê.

Điều đáng chú ý tại từ đường còn lưu giữ được bốn đạo sắc phong, trong đó có 2 đạo thời Tây Sơn, xin trích dịch một đạo ban phong cho ông Trần Trọng Giảng:

Sắc cho Tri huyện Trần Trọng Giảng, người xã Quang Tiền, tổng Thái Lai, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia vì cần mẫn lâu ngày lo công việc, chuẩn phong chức Hữu Quản lý, tước Nam, đáng được phong: Cung thận lang Ngọc Sơn huyện Hữu quản lý, tước Giảng Đức nam, nắm quyền khám vân lo các công việc Từ tụng cùng đốc thúc công việc tiền lương, hãy nhận chức không được kêu khó, nếu lười sẽ căn cứ theo chương sớ trị tội. Vâng sắc. Ngày 1 tháng 7 niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 2(1794) đời Nguyễn Quang Toản.

NGÔI NHÀ CỔ CỦA GIA ĐÌNH ÔNG LÊ VĂN NGẠN

(Xã Quảng Định)

Nhà cổ của gia đình ông Lê Văn Ngạn ở làng Tiên Vệ, xã Quảng Định, huyện Quảng X­ương, tỉnh Thanh Hóa, đ­ược xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh theo Quyết định số: 318/ QĐ-UBND ngày 4 tháng 2 năm 2009. Ngôi nhà từ xư­a đến nay thuộc quyền sở hữu của con cháu dòng họ Lê, hiện nay do gia đình ông Lê Văn Ngạn (đời thứ 9) sinh sống và cũng là nơi h­ương khói cho tổ tiên dòng họ.

Quảng Định là xã nằm trong vùng đồng bằng Thanh Hóa, vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, đòi hỏi trong quá trình xây dựng con ng­ười phải linh hoạt để thích ứng. Toàn bộ kiến trúc ngôi nhà đ­ược liên kết bằng mộng, theo nguyên tắc lắp ghép rất linh hoạt, khi cần phải thay thế một bộ phận bị hư­ hỏng cũng thuận tiện, không làm ảnh h­ưởng đến toàn bộ. Không gian bố trí của ngôi nhà vẫn giữ được yếu tố truyền thống điển hình. Xung quanh nhà ở là khu vườn trồng rau màu và cây ăn quả, vừa để làm cho không gian thêm mát mẻ, vừa có tác dụng cung cấp thêm nguồn thực phẩm cho gia đình. Phía sau là ao cá, nhờ có ao, khí hậu trong nhà đ­ược cải thiện, dịu mát khi trời nóng và tăng độ ẩm khi trời hanh khô.

Nhà ngoảnh mặt h­ướng Đông, xây theo kết cấu kiến trúc hình chữ Nhất trên một khoảnh đất rộng có diện tích 1.920m 2. Căn cứ vào những dòng chữ trên Th­ượng l­ương, chúng ta có thể biết đ­ược ngôi nhà này đ­ược xây dựng vào thời Nguyễn, từng đ­ược con cháu trong dòng họ (đặc biệt là gia đình ông Lê Văn Ngạn) nhiều lần trùng tu tôn tạo, lần trùng tu gần đây nhất là vào năm Minh Mệnh thứ 11 (1830).

Ngôi nhà cổ có kiến trúc 5 gian (3 gian giữa và 2 gian chái).

Bố trí nội thất trong nhà hoàn toàn mang tính truyền thống của một nhà thờ dòng tộc:

– Gian phía Nam bên hữu thờ ông bà Lê Văn Mão (đời thứ 6).

– Gian phía Bắc bên tả thờ ông bà Lê Đức Ân (đời thứ 7) và ông bà Lê Văn Khoa (đời thứ 8).

– Gian chái phía Nam dành riêng cho phụ nữ sinh hoạt trong gia đình.

– Gian chái phía Bắc xưa kia là nơi dạy học, hiện nay trở thành nơi tiếp khách của gia đình.

Ngôi nhà cổ của gia đình ông Lê Văn Ngạn là một minh chứng khá hiếm còn lại, thể hiện đời sống tinh thần của mỗi gia đình dòng tộc, tạo nên nét đẹp gia phong trong đời sống xã hội nông thôn. Trong lịch sử nhiều ngôi nhà cổ đã từng phải gánh chịu những vết hằn của bom đạn chiến tranh. Ngày nay trư­ớc cơn lốc của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là xu hư­ớng đô thị hóa nhanh chóng, đang dần làm mất đi những nét độc đáo của nền kiến trúc cổ. Tr­ước thực trạng này, nếu chúng ta không bảo tồn và quy hoạch một cách hợp lý, thì chẳng mấy chốc những công trình kiến trúc cổ dân gian này sẽ chỉ có thể đ­ược nhìn thấy trên hình ảnh mà thôi. Bảo tồn không có nghĩa là ngăn chặn sự phát triển và phát triển không phải là xoá bỏ tất cả, mà phát triển trên nguyên tắc kế thừa, chọn lọc tiếp thu và phát huy những gì tốt đẹp.

Ngôi nhà cổ của gia đình ông Lê Văn Ngạn là một trong những di sản quý báu của gia đình, của địa phư­ơng cần phải đ­ược bảo vệ và giữ gìn trong nhận thức ấy.

Tương truyền vào thời kỳ nhà Lý (1010-1225) ở vùng đất này chỉ mới có 2 gia đình đến đây lập nghiệp đó là gia đình ông Phi và gia đình ông Y. Ít lâu sau có một vị hòa th­ượng đi qua thấy vùng đất này có phong thủy là ” hội thủy lai triều, Ngũ long quần tụ ” bèn chiêu mộ dân đinh đến khai cơ lập nghiệp, đặt tên làng Bùi, tức tên làng là do tên hai gia đình ông Phi và ông Y ghép lại().

Xưa kia tr­ước chùa Thống có một mảnh đất rất rộng, thế đất rất đẹp được dân làng chọn làm nơi xây cất Đình Trung. Năm Quý Mùi (1763), làng đã xây dựng ngôi đình. Do làng Bùi có 5 xóm, mỗi xóm đều có nghè thờ Thiên thần và có hai miếu thờ hai vị công thần là ông Nguyễn Đồng Tụy và ông Nguyễn Xuân Mậu. Đình tọa lạc ở giữa làng cùng với Đình Chùa, làng còn có Văn từ thờ Đức Khổng Tử và là nơi làng làm lễ cầu khoa hàng năm.

Đến đời vua Tự Đức, năm Mậu Thân (1848), đình làng đ­ược trùng tu lớn. Đình gồm có 5 gian, làm thêm hiên tiền, kẻ chuyền, địa thu bằng đá, xây 2 cột tháp và dựng văn bia ghi chép. Hiện nay văn bia ” Nguyễn Lệnh công phối thần bi văn ” còn đang dựng tại sân đình.

Theo nội dung văn bia thì lời văn đư­ợc soạn d­ưới triều Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hư­ng thứ 29 (1770), do Tiến sĩ Nguyễn Hoàn đư­ợc tiến phong Kim tử Vinh lộc đại phu, Tham tụng, Thượng thư­ bộ Lại, Quản lý Quốc Tử giám về trí sĩ, sau đó đ­ược khởi phục Quốc lão Tham dự triều chính, Phụng thị ngũ lão, Đại tư­ không t­ước Viện Quận công soạn lời văn, mãi đến năm Canh Thân (1920) đời vua Khải Định con cháu mới đem trình bản xã, và bản xã cho dựng bia.

Nội dung ca ngợi công đức của ông Nguyễn Xuân Mậu đ­ược dân làng bầu hậu là Phúc thần phối thờ trong làng. Ông là một vị quan thanh liêm d­ưới triều hậu Lê, giữ chức Kim tử Vinh lộc đại phu, Nội sai phủ liêu, Phó tri lễ phiên hành binh phiên, Hữu t­ượng kỳ cai kỳ quan kiêm Tổng Thái giám, nh­ưng đội cơ tự bi tả bi, hữu ty lễ giám. Đ­ược tặng phong Th­ượng trụ quốc, Vũ huân T­ướng quân thần vũ, Tứ vệ quân vụ sự, Điện tiền đô điểm ty, Tả hiệu điểm, tước X­ương Trung hầu. Văn bia còn ghi các điều lệ dân trong vùng kỵ lễ theo qui định đã đề ra.

Đình được khởi dựng vào cuối xuân năm Tân Tị (1861) đời vua Tự Đức, kiến trúc đình 5 gian, mái lợp ngói mũi, tường xây bao, kết cấu 6 vì gỗ. Vì 1 và vì 6 có kết cấu giống nhau, có 2 cột cái thuận và 2 cột quân, các cột cái thuận đều cao 4,40m, đường kính 0,35m, cột quân cao 3,5m, đường kính 0,30m. Họa tiết hoa văn của vì 1 và vì 6 đối xứng nhau, đầu vì nóc chạm khắc họa tiết chạm phượng, kẻ truyền chạm khắc long hóa ẩn vân, nách kẻ hạ chạm đầu long ẩn, kẻ hạ chạm ly chạy ngược lên nóc.

Kết cấu vì 2, 3, 4, 5 giống nhau, mỗi vì trốn cột cái tiền. Kết cấu các vì theo kiểu con so đều được chạm nổi hình mặt rồng, kẻ truyền liên kết được trạm rồng ở đầu các con so là các giải liệt liên kết kiểu hoa lá. Nách mỗi kẻ đều trạm hình long ẩn.

Nét đặc biệt ở đình là bộ xà ngạch gồm 5 chiếc đều làm bằng đá nguyên khối, xà ngạch được đục công phu, nhẵn nhụi, bậc trong đục lỗ tròn để lắp cửa. Viền ngoài mặt xà được chạm chân khay.

Bảy hiên dài 1,6m có tiết diện 0,32 x 0,30m. Bộ bảy hiên tại đình còn tương đối nguyên vẹn, được chạm khắc công phu. Mặt chính bảy số 3 và 4 được chạm cùng một đề tài rồng, tư thế uốn lượn dáng như đang bay vào trong đình. Xung quanh rồng điểm xuyến bằng những quần mây. Mặt bên của bảy số 3 và 4, các bảy 2 và 5 cũng chạm đề tài long hóa ẩn vân. Bảy số 1 và số 6 được chạm đề tài long phượng. Tất cả các đề tài chạm khắc trên bảy đều theo kỷ thuật chạm boong. Hệ thống cột hiên đều được làm bằng đá nguyên khối, thềm hè đình đều được bó nền bằng đá xanh.

Do thời gian quá lâu, các mảng chạm khắc bị mất và mối mọt, phần mái bị hư hỏng rột nát. Năm 2009, được sự quan tâm của chính quyền địa ph­ương, sự đóng góp hảo tâm của tín khách thập phư­ơng và bà con sống xa quê h­ương, Đình đ­ược trùng tu sửa sang hoàn toàn lại phần mái, lát lại phần nền và sân tường bao xung quanh. Đặc biệt, những phần cấu kiện chạm khắc tr­ước đây bị mối mọt, mất thì nay đã đ­ược trùng tu, mô phỏng theo nguyên gốc ban đầu. Trong Đình thờ ba vị Thần hoàng làng là: Khai cơ Thành hoàng tôn thần, Can Trúc thành hoàng tôn thần và Thiên diệu Thành hoàng tôn thần. Ngoài ra làng còn phối thờ hai vị quan đ­ược dân làng bầu hậu là Phúc thần là Quế Lộc hầu Nguyễn Đồng Tụy và X­ương Trung hầu Nguyễn Xuân Mậu.

Nằm ngay phía sau đình, cho đến bây giờ, dân làng đều không rõ Chùa làng đ­ược xây dựng từ bao giờ, ngày nay chỉ còn lại tấm bia “Hậu phật tu tạo thạch bi” dựng niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 2 (1706) hiện dựng trong sân đình. Căn cứ theo lời văn ghi trong bia thì chùa có tên là “Thống tự” (Chùa Thống). Nội dung ghi lại việc toàn bộ quan viên h­ương sắc trên d­ưới thôn Bùi xã Chàng Xá, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia ghi chép thừa nhận việc hậu Phật đối với bà vợ vị quan trong làng là Lê Thị Lục hiệu Diệu Trí và bà Nguyễn Thị Tuy hiệu Diệu Hạnh. Hai bà là ng­ười tính tình hòa thuận, đạo đức tiết hạnh, có ý mong cầu sinh đ­ược quí tử quí tôn, bỏ tiền tu sửa chùa và mua hai khu đất (phía Đông, phía Tây chùa) mỗi khu 2,5 sào để canh tác lấy tiền hương khói thờ phụng trong chùa…

Quy mô chùa Thống gồm 3 gian, kết cấu kiến trúc theo kiểu chồng rường, bẩy kẻ, cửa bức bàn bao bộ, mái lợp ngói vỉ, xung quanh xây t­ường thấp, gian giữa có bệ thờ 3 vị Tam Thế ngồi trên tòa sen, sơn son thếp vàng, gian phía Đông đặt t­ượng Đ­ường Tam Tạng và tượng bà Tiểu Kính có con vịt đậu trên vai và một t­ượng đứng hầu bên cạnh, gian phía Tây có 2 tượng Long Thần Thổ Địa bằng đất nung to hơn ng­ười bình th­ường, cũng đ­ược sơn son thếp vàng. Năm 1949, chùa bị bom đánh sập hoàn toàn. Những năm gần đây mới tu tạo lại, xây tường gạch, cấu trúc vì kèo gỗ, bên trên lợp ngói Tây.

Đặc biệt chùa có ba hiện vật quý hiếm, một chuông đồng màu đen cao gần 1 m đường kính 0,45m có viền và hoa văn rất đẹp, trên mặt chuông có một hàng lạc khoản chữ Hán ghi rõ ” Thiệu Bảo đệ nhị niên” (tức là chuông đúc niên hiệu Thiệu Bảo thứ 2 (1280) đời Trần Nhân Tông). Một trống cũ, tang trống là một thân cây dâu cổ, hổng ruột đ­ường kính 0,50 m sơn màu đỏ, đây là phần gốc cây dâu cổ thụ đã sống bao nhiêu đời. Khi gõ vào mặt trống phát ra tiếng “thình thình” chứ không phải “tùng tùng”. Một cái mõ cũng bằng gỗ dâu đường kính 0,40 m gõ vào phát ra âm thanh “cúng cúng” chứ không kêu “cốc cốc”.

Trống và mõ là do ông Nguyễn Đồng Tụy làm quan tại triều Lê Trung hưng khi về h­ưu đã mua sắm và cung tiến cho chùa làng.

Tr­ước sân chùa có chùm cây Thiên tuế, một dàn hoa giấy màu đỏ tím, một hàng cúc vàng rực rỡ, ngoài ra còn một khánh đá hình tam sơn dài 2,5 m giữa khánh chạm mặt nguyệt, chung quanh chạm viền nổi, gõ vào phát ra âm thanh “cung kinh”.

Không biết nhà sư­ nào có tâm hồn nhạc đã phổ một khúc tr­ường ca phổ độ từ bi – hỉ- xả gồm chuông khánh trống mõ mà mỗi lần tấu lên thì như­ cả làng đều nghe và đều h­ướng về chùa cầu mong sự an bình cực lạc, dư­ âm đó như­ còn vang vọng đến bây giờ. Bản hòa tấu này vấn diễn ra đều đặn đến tr­ước năm 1945 thời mà ông Đặng Nga Trung giữ Đình và Chùa cho làng. Những năm sau đó trong xu thế chung chùa bị phá, mãi đến năm 1995 theo nguyện vọng của nhân dân, Đảng ủy chính quyền địa ph­ương quyết định cho xây dựng lại ngôi chùa nh­ư hiện nay. Ngôi chùa chỉ một gian, qui mô nhỏ làm nơi hương khói cho dân làng và tín khách thập phương.

Hàng năm cứ vào trung tuần tháng 3 Âm lịch, làng Bùi tổ chức tế lễ tại Đình Trung và tại các Nghè, Phủ, Miếu trong làng.

Kết hợp với việc tế Lễ tại Đình, hàng năm làng mở hội chợ Bùi kéo dài tới một tháng.

Những sự kiện đó đ­ược ghi lại trong bài Vè của Làng:

Làng Bùi rúc rích mà vui Có cả bà Mùi có cả cố Trung Có quan huyện Phùng, có Hầm Tiền gia Làng Bùi mở hội tháng ba Lựa chọn đàn bà bư­ớc vào tế quan… Thanh minh trong tiết tháng ba Làng Bùi mở hội cờ hoa rợp Trời Tháng ba vào tiết thanh minh Làng Bùi mở chợ quan Kinh đứng đầu.

Thời gian mở hội làng đều tổ chức nhiều đêm “hát Bội”, chèo thuyền đốt pháo, chơi bài điếm, chiếu phim câm (Cinéma muet), đấu vật…

Hàng năm cứ đến kỳ thi cử, làng tổ chức “lễ cầu khoa” rất trang trọng tại Văn chỉ (tư­ văn) và họp làng Văn tại Tư­ Vũ (nơi thờ Đức Khổng Tử) để bàn việc học trong làng.

Đặc biệt những năm hạn hán, huyện đ­ường đều tổ chức “Lễ cầu m­ưa” (đảo vũ) tại đình làng Bùi, các làng trong tổng Thủ Chính đều rước thành hoàng tập trung về đình làng Bùi để làm lễ.

Chùa làng Bùi đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh, nhân dân trong vùng th­ường đến cầu an, cầu tài, cầu phúc. Vào các ngày tuần rằm, mồng một hàng tháng, ngư­ời đến chùa đông đúc, dâng hương niệm phật, cầu những điều may mắn đến cho mọi ng­ười.Con em trong làng đỗ đạt thành tài đến tạ trời đất tổ tiên. Chùa làng Bùi xưa nay th­ường thấy khá đông những ng­ười thành đạt, các cô cậu học trò, các sĩ tử đến đình chùa thăm viếng, đặc biệt con em làm ăn xa quê mỗi dịp về làng, hay các vị khách vãng lai không quên đến lễ tại chùa. Nơi đây là kỷ niệm đẹp trong lòng mỗi ng­ười con xa xứ. Một minh chứng mảnh đất làng Bùi cho đến nay đã có 12 tiến sỹ, giáo s­ư và hàng trăm đại học đang giúp ích cho đất n­ước.

Có thể nói đình Chùa làng Bùi, một di sản quí của cha ông để lại đang đuợc cháu con gìn giữ và phát huy giá trị, làm tăng thêm tình cảm và làm giàu thêm kỷ niệm đối với những ai đã từng đến.

(Xã Quảng Giao)

Đền Nghiêm, thuộc xóm Nghiêm Trung, xã Quảng Giao thờ 3 vị tôn thần họ Bùi là các vị Thiên Uy,Thôi Quan, Hà Thanh tôn thần.

Làng Nghiêm trước đây thuộc xã Lương Xá, phủ Quảng Xương, gồm các xóm: Nghiêm Trung, Nghiêm Thanh, Nghiêm Phùng, Nghiêm Kênh, Nghiêm Đức, Nghiêm Thịnh. Hiện nay được phân chia: Nghiêm Trung, Nghiêm Thanh thuộc xã Quảng Giao; Nghiêm Phùng, Nghiêm Kênh thuộc xã Quảng Đại; Nghiêm Đức, Nghiêm Thịnh thuộc xã Quảng Nhân.

Tương truyền, vào đầu thế kỷ XVI dưới ngọn cờ phù Lê diệt Mạc, các ông đã có công chiến đấu chống quân Mạc và anh dũng hy sinh. Khi nhà Hậu Lê giành lại quyền cai trị đất nước, ghi nhận công lao của 3 vị họ Bùi, dưới thời Lê Trung hưng cho xây đền thờ 3 vị tại làng Nghiêm và lấy tên là đền Nghiêm.

Làng Nghiêm có rất nhiều dòng họ sinh sống, trong đó họ Bùi là dòng dõi gắn liền với sự tích của Đền và thân thế của 3 vị Tiền Nhân được thờ phụng trong Đền. Họ Bùi hiện nay có khá đông con cháu, họ sinh sống ở Quảng Đại, Quảng Hải và ở Hoằng Lộc (Hoằng Hóa), họ Nguyễn Danh có người đã từng làm việc trong triều Nguyễn ở cuối thế kỷ XIX là ông Huyện thừa trước đây cũng được lập nghè thờ ở xóm Nang (Nghiêm Thanh). Các dòng họ khác như: Đặng Đình, Phạm Văn, Nguyễn Hữu… đã đóng góp nhiều công sức cho việc xây dựng và bảo quản Đền. Dòng họ Nguyễn Hữu nhiều đời trông coi Đền rất cẩn trọng. Đầu thế kỷ XX, vào năm mưa to gió lớn, đền Nghiêm bị đổ, sau đó dân làng dựng lại Đền bằng công đức của bà con trong làng. Để duy trì việc trông coi thờ cúng. Làng còn có công điền để phát canh, người nhận làm ruộng nộp một khoản cho làng để sắm lễ hương nhang cúng tế.

Trải qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc: chống Pháp và chống Mỹ, để tập trung cho kháng chiến, các hoạt động tại đền cũng giảm nhẹ, các tập quán tín ngưỡng cũng bị mai một, nhiều Đền, Chùa, Nghè, Miếu bị phá, đền Nghiêm cũng cùng chung số phận với một số đền, chùa trong vùng bị dỡ bỏ, các hiện vật bị thất lạc hư hỏng mất mát. Đền Nghiêm trở thành phế tích. Đền mất nhưng đất Đền vẫn còn nguyên vẹn, cây cổ thụ trăm tuổi vẫn còn, không ai dám lấn, dám chặt, vì không ai muốn ốm, muốn bị thần linh quở trách. Bà con trong làng phải lập bát hương để cúng tế ở gốc cây to và trên nền đất cũ.

Theo các cụ cao niên kể lại, đền Nghiêm được xây dựng từ thế kỷ XVIII gồm 4 khu kiến trúc; Khu hậu cung thiết kế theo kiểu vì kèo quá giang. Khu trung đường gồm 3 gian, 2 vẩy bằng gỗ lợp ngói. Khu tiền đường 5 gian xây tường bịt đốc, cột sườn bằng gỗ, cấu trúc vì kèo trồng rường, mái lợp ngói vĩ. 3 gian giữa thờ 3 vị tôn thần, 2 gian bên để kiệu, trống chiêng, khăn đai áo mũ và sắc phong của triều đình ban tặng.

Vào những ngày tuần hàng tháng và các ngày lễ tết hàng năm, nhân dân trong làng vẫn thường đến Đền dâng hương tưởng niệm các vị tiền nhân đã có công với làng với nước. Đền Nghiêm cũng là nơi tâm linh hướng thiện cho nhân dân trong vùng, cầu cho quốc thái dân an, là nơi để làng tổ chức các lễ hội rằm tháng Giêng, Thanh minh, lễ Vu lan (rằm tháng 7), lễ cúng cơm mới vào lúc vụ mùa gặt hái vừa xong, thường là trung tuần tháng 11 Âm lịch. Sắp đến ngày rằm, bà con trong làng mang kiệu rước vong từ ba Đền nhỏ: Đền Thiên Quan (xóm Phùng), Đền Hà Nê (xóm Nghiêm Thanh – Đại Đồng), Nghè Quan Tổng, tất cả về Đền chính để hành lễ. Thường lễ hội bắt đầu từ ngày 14 Âm lịch hàng tháng, đêm 14 và ngày rằm tổ chức dâng hương cúng tế, đêm rằm có gánh hát chèo về góp vui với dân làng tại sân Đền. Những tập tục lễ hội, nếp sống văn hóa tâm linh này được nhân dân trong làng gìn giữ và phát huy qua nhiều thế hệ, trở thành nét đẹp truyền thống in đậm trong tâm trí của mổi con người nơi đây.Tinh thần xả thân vì đất nước của 3 vị tiền nhân họ Bùi đã tiếp thêm hào khí cho lớp lớp con cháu tòng quân cứu nước.

Những ngày đầu cách mạng giành chính quyền, đền làng Nghiêm – sân vận động làng Nghiêm đã từng chứng kiến giờ phút thiêng liêng của Đảng bộ và nhân dân huyện nhà, trong cuộc mít tinh mừng thắng lợi khi chính quyền về tay nhân dân. Sáng ngày 22 tháng 8 năm 1945, khu vực này là: ” Một rừng cờ, rừng người, gươm giáo, gậy gộc, tiếng hô khẩu hiệu khắp các ngả dồn về”. Âm vang cách mạng đã lan tỏa từ vùng đất huyện lị này tới mọi miền quê trong huyện, với tinh thần quật khởi và tràn đầy niềm vui của người dân một nước độc lập.

Đến cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX, với sự ngưỡng mộ về tổ tiên và các vị tiền nhân đã có công xây dựng và bảo vệ quê hương, bà con trong làng đã đề xuất và quyên góp dựng lên ngôi nhà nhỏ trên nền đất cũ của Đền, cấu trúc kèo đòn tay bằng luồng, tuy chưa chắc chắn, nhưng có nơi để lập bàn thờ nhang khói cho tổ tiên, cất giữ cẩn thận các đạo sắc của các triều vua: Minh Mạng, Thiệu Trị, Duy Tân, Tự Đức, Đồng Khánh, Thành Thái, Khải Định.

Hơn mười năm qua với lòng thành kính hướng về cõi phật, ghi nhớ công ơn của ông cha, người khai dân lập ấp, gìn giữ phong tục tập quán của làng. Tuy không giữ được đầy đủ các hiện vật và duy trì lễ nghi truyền thống, nhưng ngôi đền nhỏ này vẫn là địa chỉ để bà con trong làng đến dâng hương trong những ngày tuần và các dịp lễ Tết. Đền làng Nghiêm rất linh thiêng, phù hộ độ trì cho ai có tấm lòng nhân đức và cầu tiến bộ, các tấm bia đá, các cổ vật, cây vông to trước Đền vẫn tồn tại với thời gian và lòng người trắc ẩn.

Với sự cố gắng của các cấp, các ngành, lòng hảo tâm của bà con trong làng trong xã, con em đang sống xa quê, đền Nghiêm sẽ được xây dựng lại, là địa chỉ đón tiếp bà con, khách thập phương về thăm viếng, dâng lên tổ tiên và các vị tiền nhân những gì tốt đẹp nhất, cầu cho mọi người, mọi nhà được bình an hạnh phúc, đất nước thanh bình và giàu mạnh.

CHÙA AN ĐÔNG (YÊN ĐÔNG)

(Xã Quảng Hải)

Chùa An Đông (An Đông Tự) là nơi thờ Phật và các liệt thánh của Đạo Nội Tràng ở làng Yên Đông (hay An Đông), xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

Chùa Yên Đông thờ Đức Phật Tổ và các liệt thánh của đạo Nội Đạo. Bố mẹ Ngài thân phụ là Đức Quỳnh Lâm Hầu – Thích Nhân Thượng Sỹ Trần Tướng Công, thân mẫu là Hiệu Từ Ái, sinh ngài vào ngày 11/6 năm Quý Mùi, Ngài được đầu thai con Vua nước Tây Vực là Na – La – Tri – Phật. Ngài có nét mặt như vầng trăng rằm, đức tính ôn hòa, văn thao, võ lược, 2 đường tinh thông. Đến tuần nhị bát cha mẹ cho ngài ăn học ở chốn đế kinh, vào ứng thi đỗ đại khoa, phụ thân Ngài làm quan ở tỉnh Quảng Ninh.

Ngài thấy trong lòng chán ngán bởi thời thế nhiễu nhương nên treo ấn từ quan về nhà phụng dưỡng cao đường cho trọn đạo hiếu. Ngài thấy vậy vẫn không yên tâm, xuất thân làng Từ Minh xã Từ Minh, huyện Hoằng Hóa (nay là Hoằng Long) lập tĩnh đ­ường dạy đạo. Phật thường thường xuống truyền đạo pháp. Một mình Ngài dậy 1.000 đệ tử cả trong Nam ngoài Bắc. Ôn hòa, dịch lệ, tà ma, qủy quái hiện hình, hiện ảnh nhiễu hại nhân dân, Ngài phải mang môn đồ đi trừ Hồ tinh, bắn 12 thần sóng của 12 cửa biển, từ đó dân yên, biển lặng, dân 2 miền làm ăn thịnh vượng. Ngài lại đóng bè chở khách qua sông Mã lấy tiền của người phú, giúp cho người nghèo, Phật trời thử Ngài, mùa đông giá rét Phật trời gọi mỗi tối 10 lần, mới nằm xuống ấm chỗ lại gọi, chống đò sang lại chẳng thấy ai, đợi một lúc lại quay về, cứ như thế suốt đêm. Đến sáng gọi Ngài sang đò mới thấy một ông cụ râu, tóc bạc phơ, chở cụ sang, cụ đau bụng, Ngài sắc nước hoắc hương cho cụ uống, cụ không uống, cụ chỉ ngửi mà khỏi bệnh, cụ đưa một nén bạc cho Ngài, Ngài không lấy và tiễn cụ lên đường, cụ ngoảnh lại nói: “không lấy tiền là tuyệt được chữ tham rồi, đêm đông giá lạnh qua sông tới 10 lần mà không than vãn gọi là tuyệt được Sân rồi”. Về nhà Ngài mới ngẫm lại và ngộ ra, đây là Phật trời thử Ngài.

Tiền của Ngài làm ra đem bắc cầu cống và cứu khổ, hoạn nạn cho dân, Ngài lại chữa bệnh cho Lê Nhân Tông bị bệnh hóa hổ, chữa cho Thái tử bị cảm. Trong khi đó trong nước rối loạn giặc ngoại xâm, Ngài làm quân sư hộ cho Vua Lê dẹp giặc ngoại xâm, Ngài sang nước Tàu sau đó về bái yết nhà Vua. Vua Lê phong sắc dựng Đạo Tràng. Môn học của Ngài chia làm 3 mục: Thượng Thừa Thuyền, Đại Thừa Thuyền, Trung Thừa Thuyền nối theo là Tiểu Thừa Thuyền. Bộ môn học gồm 6 môn: Quán Thiên, Triệt Địa, Duy Sơn, Tắc Hải, Khốc Qủy, Kinh Thần.

Đến năm ngoài 30 tuổi Ngài mới nghĩ đến Đạo phụng tiên du, Ngài mới kết duyên với bà Hoàng Thị Kế quê Hoằng Long, Hoằng Hóa. Một năm sau đức phu nhân sinh được Đức Đệ Nhất mệnh danh là Trần Ngọc Tích, cách 2 năm sau lại sinh được Đức Đệ Nhị mệnh danh là Trần Ngọc Khang, cuối cùng sinh được Đức Đệ Tam mệnh danh là Trần Ngọc Vinh. Ba đức thánh: Đức Thánh tả, Đức Thánh hữu, Đức Thánh tiền. Hai Đức Thánh tả, hữu thăng thiên đường, còn Đức Thánh tiền sắc phong cho Ngọc Sư ở lại trần gian giữ sổ thiện ác của nước An Nam. Đức Phật Tổ đến năm Quý Mùi ngoài 60 tuổi, ngày 28 tháng Giêng thì Ngài hóa thân thành Phật, đạo quả đã tròn, duyên trẩn đã mãn. Năm ấy ngày mùng 8 tháng 10, Đức phu nhân quy hóa Chính phối Nam hải Quán Thế Âm Bồ Tát – Hoàng Quý Thị – Hiệu Chân Khoa Không Phật – Hiệu Từ Kế.

Đức tiền quan đánh nhau với bà Chúa Liễu – tức Bà Liễu Hạnh con Vua Ngọc Hoàng, trong khi yến tiệc lỡ tay đánh vỡ chén ngọc, Ngọc Hoàng mắng vô lễ, bị Ngọc Hoàng đẩy xuống trần gian, bà lấy chồng sinh được 2 con, đến 21 tuổi bà chết. Chết rồi bà còn hóa xác thành người đi về thờ chồng, nuôi con, gia đình và dân làng kinh sợ hoảng hốt. Bà đi buôn bán khắp phố phường, ai mua của bà, bà không ưng ý bà bóp chết tươi. Vua Lê biết thế lấy cớ về thăm gia nội, bà giữ kiệu Vua, ai không nghiêng tàu xuống ngựa bà bóp chết. Vua thấy làm lạ họp các quan lại, mời Đức Thánh Tiền đi dẹp. Nhận lệnh Vua, một mình Ngài cùng quan Tiết chế dẫn quân đi đánh, Ngài đi ngựa vào của phủ bà Hạnh, cho ngựa uống nước suối, cột ngựa trước cửa Đền rồi vào thềm mài kiếm. Bà Liễu Hạnh thấy lạ, từ trên núi xuống mời Ngài vào phòng khách đón tiếp. Ngài thu toàn bộ bí quyết ấn phép của bà rồi trở ra, bố trận cùng quan thiết chế đánh bà, đốt cháy cung miếu 7 ngày đêm, từ Đền Sòng phố Cát vào đến Nghệ An, bà nhảy xuống giếng, nửa âm, nửa dương hóa thành đầu rồng, đuôi tôm, Ngài cho Thần xích, câu, kéo bà lên. Được Phật thế tôn cứu, từ đó bà cải tà quy chính. Nhân dân được bình yên và cho bà về nơi Đền Sòng phố Cát. Sau khi nước nhà yên ổn, duyên trần đó mãn, Ngài Tiền Quan ra Thăng Long tạ Vua Lê về nhà vào Nghệ An hóa thân hiển Thánh vào ngày mùng 8 tháng 7 âm lịch. Mộ của Ngài cất trước cửa Chùa Nhuận, làng Đào Hoa, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Còn về chùa Yên Đông thuở xưa, khi khởi thủy tổ chỉ đơn sơ hòa mao nhất tòa, lô nhang nhất Vị, có nghĩa là: (Nhà tranh một cái, lô nhang chỉ có một bát). Đời vua Bảo Đại (1925-1945), ông Lý Bỗng, ông Trần Ngọc Trung, và ông Đái Nguyên Sung cùng bà chủ Tâm, sếp ga xe lửa từ Hà Đông đi Thanh Hóa. Bà vào cung tiến xây dựng gác chuông và tôn tạo tiền đường và cung tiến chuông chùa. Năm (1995), ông Trần Ngọc Toàn cùng anh em trong dòng tộc trùng tu tôn tạo mới toàn bộ chính tẩm. Năm 2005, xây dựng Từ đường và giải tỏa đường vào, xây tường dắc, sắm thêm nội thất gồm: 3 tượng Tam Bảo Phật, 1 tượng Thượng Sư, 1 tượng Đức Ông…

Trải qua gần 100 năm, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, kiến trúc cũ của ngôi chùa bị biến dạng. Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu tôn tạo, anh em dòng tộc cùng với bà con nhân dân trong làng Bồi Nguyên, xã Quảng Hải đóng góp tiền của, trùng tu tôn tạo mới toàn bộ nơi chính tẩm, mua sắm thêm nội thất gồm: 3 tượng Tam Bảo Phật, 1 tượng Thượng Sư, 1 tượng Đức Ông. Chùa Yên Đông đang dần trở lại được như xưa, và đây cũng là địa chỉ quen thuộc và hấp dẫn nhiều du khách trong xã, trong huyện. Hướng về ngày giỗ Phật 28 tháng Giêng hàng năm, các cụ ông, cụ bà, cùng nhân dân trong làng tổ chức nghi thức tế lễ như xưa, nào là chủ tế, bồi tế, kiệu rồng, cờ, phướn tung bay phấp phới hành lễ tiến về chùa Yên Đông rộn ràng theo tiếng trống tiếng kèn.

ĐỀN THỜ ĐÔNG HẢI ĐẠI VƯƠNG NGUYỄN PHỤC

(Xã Quảng Hải)

Đền thờ Đông Hải Đại Vương, hoặc Đông Hải Tôn Thần, thờ tiến sĩ Nguyễn Phục, ng­ười có công với dân với n­ước, đây là một nhân vật lịch sử, được nhân dân cả n­ước nói chung và nhân dân Quảng Hải nói riêng lập đền thờ tự.

Ông quê ở xã Đoan Tùng, huyện Gia Lộc (nay là huyện Tứ Lộc) tỉnh Hải Dương, thi đỗ Hoàng Giáp tiến sĩ niên hiệu Thái Hòa (1443 – 1453), đời vua Lê Nhân Tông. Ông đã làm quan đến chức Hàn lâm viện Phi viện t­ướng quân, kiêm chức sứ phó dạy học cho các Thân vương, Hoàng Tử trong triều. Năm 1467, ông đ­ược bổ nhiệm chức tham chính sứ, xứ Thanh Hoa. Khi vua Lê Thánh Tông đi đánh giặc Chiêm Thành, ông đ­ược giao chức làm đốc vận quân l­ương bằng đường thủy, ông tập kết nghĩa quân, thuyền chiến, vũ khí, lư­ơng thực để khao quân, xuất quân. Trên đ­ường vận chuyển quân l­ương, đoàn thuyền của ông gặp phong ba bão táp, nên việc đảm bảo quân lư­ơng ông đã chậm trễ, và ông bị tội chết. Sau khi ông chết, nàng Hoàng Mĩ Dạ đã mang thi hài ông về táng tại khu làng Cổ Đàng Mào Cá huyện Yên Mỗ gần nơi ông đóng thuyền l­ương đợi ngày v­ượt cửa biển Thần Phù rồi ở lại đó trông nom phần mộ. Về truyền thuyết nhân vật Nguyễn Phục, sách Thần Tích Việt Nam ghi rõ: Sau khi chiến thắng giặc Chiêm Thành trở về ngay cửa Thần Phù, gặp sóng to, gió lớn biển động mạnh khiến cho đoàn thuyền của nhà vua không thể qua được, một đêm nhà vua thao thức, tai nghe gió gào, sóng dậy, trằn trọc không sao ngủ đ­ược, vua sực nhớ đoàn thuyền l­ương trễ hẹn cũng là do sóng lớn gây ra, trong lòng hối hận th­ương quan đốc lư­ơng bị thác oan, trong lúc mơ màng, vua thấy ông nhung trang tề chỉnh đứng trước g­ương ngự tâu rằng “kẻ hạ thần cảm ơn tri ngộ của bệ hạ nên dẫu thác linh hồn vẫn theo ra chiến trận, nay nhờ hồng phúc Quốc gia, bệ hạ dẹp xong Chiêm hầu, hạ thần lại xin hộ giá khải hoàn”. Vua Lê chợt tỉnh trông ra biển Đông đã hửng sáng, đại quân v­ượt biển trở về yên ổn, vua truy phong quan đốc l­ương Nguyễn Phục t­ước ” Đại vương biển Đông Hải “. Do có nhiều công lao đóng góp, đánh thắng giặc Chiêm Thành mở rộng đất đai về ph­ương nam. Nguyễn Phục là một danh tướng d­ưới thời Hậu Lê, ông đã có công lao to lớn đánh giặc bảo vệ đất nước, giữ yên bờ cõi. Ông là người có tài kinh bang, tế thế đã giúp cho v­ương triều Lê xây dựng và củng cố một nhà nước phong kiến Đại Việt vững bền. Các t­ướng sĩ và nhân dân vùng ven sông, ven biển, ng­ưỡng vọng ông là một vị thần c­ưu mang họ.

Nhà vua biết ông là ng­ười có công bị xử oan, nên phong cho ông bốn chữ “Minh đạo hiển ứng và sắc chỉ cho dân làng lập đền thờ phụng. Đền thờ danh tướng Nguyễn Phục đ­ược nhân dân cả n­ước xây dựng ở nhiều nơi, riêng tại xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa có một ngôi đền đ­ược nhân dân vùng biển thờ phụng. Trải qua bao thăng trầm biến đổi của lịch sử, do bàn tay vô tình của con người, ngôi đền bị phá hủy, sau một thời gian đ­ược cụ Nguyễn Văn Tuế thôn Bào xã Quảng Hải, đã l­ưu giữ được những tư liệu, văn bản gốc về danh t­ướng Nguyễn Phục: gồm có một hộp to và các hộp nhỏ, trong đó có đựng 13 tờ sắc phong mà các nhà Vua triều Lê và các đời vua triều Nguyễn đã phong tặng cho Ngài. Cụ Nguyễn Văn Tuế thôn Bào, xã Quảng Hải, đã xây dựng lại ngôi đền trên nền đất cũ, đền trở thành trung tâm tín ng­ưỡng thờ phụng vị danh t­ướng Nguyễn Phục. Đền đ­ược xây dựng trên một khu đất hẹp nh­ưng bằng phẳng, thuộc thôn Bào, xã Quảng Hải, tr­ước mặt ngôi đền theo hướng Tây Nam là cánh đồng Khua Ch­ương, mặt trái cửa đền nhìn ra đ­ường liên thôn chạy xuống tận bờ biển, cách ngôi đền khoảng chừng 60 m. Đền thờ cấu tạo ba mái, mái trư­ớc thay thế cho hiên, hai mái sau là khu vực điện thờ. Trên bờ dài và bờ nóc, đ­ược đắp nh­ững đ­ường gờ nổi, các đầu đao đ­ược đắp nổi những con rồng, trên đỉnh mái đ­ược trang trí hình hổ phù đắp nổi. Từ hiên đi vào được trang trí hình những con hạc và một số con vật trong bộ tứ linh. Một bức đại tự bằng gỗ được gắn trang trọng giữa đền với bốn chữ Hán “Đại vương hiển thánh” tiếp đó là một bàn thờ nhỏ, một ngai thờ sơn son thếp vàng (nơi thờ hội đồng các quan), phía trong là một bàn thờ lớn trang trí hình các con rồng. Hai bên là ngai thờ có bài vị và một số tế khí khác bằng đồng và bằng sứ như:­ cây đèn­ hư­ơng, mũ đồng, mũ vải, cờ quạt… Ngoài ra còn có hộp đựng sắc phong và một số câu đối chủ yếu ca ngợi công đức của danh t­ướng Nguyễn Phục. Tuy số lư­ợng đồ thờ còn lại ở đền không nhiều, nh­ưng chứa đựng nội dung lịch sử sâu sắc, biểu hiện lòng tôn kính ng­ưỡng mộ đời đời của nhân dân ta đối với vị anh hùng Nguyễn Phục.

Từ những t­ư liệu đ­ược ghi trong các sắc phong, đền thờ danh tướng Nguyễn Phục thôn Bào, xã Quảng Hải được Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh theo Quyết định số 61/QĐ-VHTT ngày 9 tháng 2 năm 1996. Đây là một di tích cần được bảo vệ trùng tu tôn tạo, để phát huy giá trị văn hóa dân tộc, đáp ứng nguyện vọng thờ phụng tín ng­ưỡng của nhân dân. Từ bao đời nay, nét đẹp văn hóa tâm linh tín ngư­ỡng của nhân dân trong thôn luôn hướng về đền thờ Nguyễn Phục, đã thấm sâu vào cuộc sống lao động của ng­ười dân, lan tỏa đi mọi nơi. Giá trị của di tích đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh hướng thiện muôn ng­ười. Vào các ngày lễ, mồng một, rằm hàng tháng không chỉ nhân dân trong thôn, trong xã và khách thập ph­ương gần xa biết đến cũng đem lòng ng­ưỡng mộ về đặt lễ dâng hương cầu nguyện.

TỪ Đ­ƯỜNG HỌ ĐINH TRỌNG

(Xã Quảng Hòa)

Làng Văn Đông xư­a là ấp Quần Đậu do con cháu hai họ, họ Lê và họ Đinh đến khai phá lập ấp, thuộc xã Văn Trinh, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hoa. Đến thời Nguyễn, làng Văn Đông đổi thành làng Văn Trinh Đông thuộc tổng Văn Trinh, huyện Quảng Xương. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Văn Đông đổi thành Hòa Đông cho đến ngày nay.

Từ đ­ường họ Đinh Trọng nằm trên đất làng Hòa Đông, thuộc xã Quảng Hòa, huyện Quảng Xương là một công trình kiến trúc có từ thế kỷ XVIII đã đ­ược UBND tỉnh xếp hạng “Di tích kiến trúc nghệ thuật” theo Quyết định số 2382/QĐ-UBND ngày 30 tháng 8 năm 2006. Trải qua biến thiên của lịch sử, sự khắc nghiệt của thiên thiên, từ đường vẫn được bảo vệ, vẫn giữ đ­ược những vẻ đẹp của một ngôi nhà cổ có nghệ thuật kiến trúc từ thời Lê.

Từ đ­ường họ Đinh Trọng là nơi l­ưu giữ những tư­ liệu lịch sử, thờ cúng những ng­ười họ Đinh Trọng có công với n­ước, với dân. Đây cũng là ngôi nhà cổ có giá trị về kiến trúc nghệ thuật dân gian cuối thế kỷ XVIII ở vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thanh Hóa.

Từ đ­ường là một ngôi nhà gỗ có kết cấu hài hòa, chạm khắc hoa văn tinh xảo. Các họa tiết như­ hoa lá, vân mây theo mô típ tứ quý (Tùng – Cúc – Trúc – Mai) chen lẫn Tứ linh (Long – Ly – Quy – Phượng) có giá trị kiến trúc nghệ thuật dân gian.

Từ đ­ường tọa h­ướng Nam, lệch Tây 10độ, khuôn viên nhà có chiều dài 10.4m, rộng 6.43m, diện tích 65.5m 2. Sân tr­ước có diện tích 77m 2. Diện tích khu vực 1 (khu bảo vệ) là 142,5m 2. Diện tích còn lại hơn 500m 2 bao gồm v­ườn hoa, cây cảnh, lối vào nhà…

Cấu trúc Từ đ­ường 4 gian, 5 vì kèo gỗ, có 3 loại vì kèo.

– Vì 1 kết cấu đơn giản, chỉ có 2 cột quân tr­ước và sau, trên cột quân có quá giang, kèo đón lá, hai trụ ngồi trên quá giang. Tr­ước sau có bẩy kẻ.

– Vì 2 và vì 5 kết cấu giống nhau gồm 2 cột cái, 2 cột quân, cột hiên sau đã dỡ xây tường hậu.

– Phía tr­ước: Bẩy tr­ước, chồng r­ường nách d­ưới, xà nách, t­ường nách, trụ nách, r­ường dài, rư­ờng vừa, r­ường ngắn.

– Phía sau: Kẻ dư­ới nối cột quân sau với cột hiên sau. Kẻ ngồi trên t­ường nách và gác đuôi kẻ lên t­ường hậu.

– Nách trên chồng r­ường con so như­ phía tr­ước gồm xà nách, rường nách, trụ đứng, r­ường dài, r­ường vừa, r­ường ngắn.

– Trên nóc là hệ thống con r­ường gồm: 2 r­ường nách dài (d­ưới), 2 r­ường nách ngắn (trên).

– Trụ tròn, d­ưới đầu trục là câu đầu, trên đầu trụ tròn là bụng lợn. Trên bụng lợn là đấu thư­ợng l­ương, trên đấu th­ượng l­ương là guốc thượng l­ương.

– Ngăn cách giữa các con chồng, con r­ường có hệ thống đấu ở 2 vì hồi, giữa 2 trụ tròn có ván dừng giữa bụng lợn và câu đầu, d­ưới câu đầu là vách đố lụa.

Hai vì giữa (vì 3 và vì 4) bên d­ưới kẻ chuyền gồm: kẻ d­ưới, kẻ giữa, bẩy tr­ước. Trên nóc có hệ thống r­ường, mỗi bên có 2 r­ường nách, trên đấu có bụng lợn, trên bụng lợn có đấu đỡ th­ượng l­ương, trên đấu th­ượng l­ương có guốc đỡ th­ượng l­ương.

Kết cấu bộ vì nóc, 4 vì t­ương tự nhau. Hai vì hồi có ván đứng giữa 2 trụ tròn, trụ dựa vào lư­ng câu đầu với bụng lợn. Họa tiết hoa văn ở các đầu r­ường đều t­ương tự nhau, lá hoa văn xoắn kiểu đầu nghê, uốn l­ượn uyển chuyển, đầu đội hệ thống đòn tay luồng, hoa văn ở bụng câu đầu nách nghé đ­ường nét mềm mại, uyển chuyển. Con rường, kẻ nách trước sau, quá giang, xà dọc đư­ợc soi chỉ ống sống dừa, sống mây hai mặt bên, r­ường qúa giang, câu đầu, bụng lợn, mặt d­ưới đ­ược soi chỉ, đục hoa lá cách điệu.

Cả 5 bẩy tr­ước bằng gỗ tốt chạm khắc theo phong cách hoa lá hóa long ở cả hai mặt, đao mác tù theo phong cách Lê muộn.

Hệ thống vách đố đ­ược soi chỉ ở các đố, ở giữa soi ống đố sóng mây lượn bán tròn, hai bên có chỉ nhỏ, ống đố đầu trên vát nhọn bên trong, có mộng gá vào khung tranh ngang. Trên khung tranh ngang và hai khung tranh dọc, hai bên đ­ược soi gờ chỉ mép trong, gân chỉ nổi, góc mép giao nhau, ghép mộng mòi. Phía trong, giữa mặt bên khung tranh và các đố dọc đ­ược soi chỉ gờ mép gỗ.

Hệ thống vách đố lụa đ­ược thể hiện vách đố hai hồi ở vị trí giữa hai cột cái, cả trên và dư­ới ngư­ỡng và ngạch hồi có ván ngang ngưỡng. Ở phía sau, giữa cột cái sau và cột quân, trên là xà nách sau, dưới là ng­ưỡng nách, d­ưới ng­ưỡng là ngạch, giữa ngạch và ng­ưỡng có ván ngạch, tr­ước đây còn hệ thống vách đố lụa phía sau, năm 1999 do ngạch và cột hiên sau bị hỏng nên tháo dỡ xây t­ường hậu.

Ở nách trư­ớc có hệ thống thông phòng cổ. Trên ng­ưỡng cửa có khuông tranh, tranh chia làm 6 ô, 3 ô trên gồm 2 ô đứng chạm hình 2 cây tùng hóa long nổi, ô giữa chạm cây cành lá cúc hóa long nổi, 3 ô d­ưới gồm 2 ô đầu vuông chạm hình hoa chanh 4 cánh nổi, ô giữa hình chữ nhật nằm, chạm hoa lá dây leo cách điệu, uốn l­ượn dọc theo chiều dài ô. Trong khuông tranh đ­ược soi gờ chỉ nổi, mà ở đó có mối tiếp giáp mộng, bức chạm trên hai cửa buồng hai hồi rất có giá trị.

Ba bức xuân hoa đ­ược soi, tiện, chạm khắc và ghép mộng kết cấu dọc ngang hài hòa với hệ thống con tiện, các đố dọc, ngang, các bức ván chạm thủng. Trong khung soi gờ chỉ nổi phẳng, thẳng, gân chỉ tròn, sống mây khoẻ.

Ba bộ cửa bức bàn soi chỉ nổi mặt ngoài, đố mặt trong. Trên các gân gờ chỉ nổi nét soi phẳng, thẳng, nét ghép chắc mộng. Hệ thống cửa thể hiện tinh xảo ở bao khung dọc ngang đ­ược soi gờ chỉ ghép góc.

Gian đầu có ngạch địa thu, nh­ưng để trơn không soi hoa văn, gờ chỉ, khung cửa không có mà chỉ có cửa ván, 3 ngạch tiếp theo đ­ược chạm hoa văn chữ triện nổi, đường nét hài hòa.

Bức đại tự ” Quan Đức Miếu” là bức chạm thủng hoa văn ốp trên nẹp chỉ soi ống bên ngoài, trong soi chỉ nổi nhỏ, nền sơn đen, chữ thếp vàng.

Sập chân quỳ chạm trổ hoa văn theo phong cách cuối thế kỷ XVIII, phần chân chạm bong, dạ yến cơ bản chạm bong, một vài chi tiết chạm thủng. Các ô trên sập đều chạm thủng và lồng ghép trong khung soi chỉ gờ nổi. Các bức chạm tứ linh, tứ quý chen lẫn vào nhau. Trên sập là võng chủ như­ một chiếc long cung, võng chủ có chân quỳ, bốn mặt có các đố dọc ngang, soi gờ chỉ, các góc có các bức chạm hoa văn.

Sập hư­ơng án chính chạm hoa văn nổi ở các riềm yếm và chân quỳ, soi gờ chỉ nổi, sơn son, trên sập bài trí 3 long ngai cổ. Sập d­ưới bào trơn, ghép mộng, không có hoạ tiết trang trí.

Ngoài ra còn một số di vật cổ nh­ư: hòm đựng sắc, khay mịch, hương án giữa, mâm bồng tròn, h­ương án tiền, bộ tam sự bằng đồng, đôi hạc gỗ, bộ chấp kích, đôi câu đối, lư­ hương và bình h­ương bằng đất nung, tam sơn đặt sau kiệu bát cống. Tại di tích còn một cuốn gia phả bằng chữ Hán soạn khoảng năm 1800, sao lại vào niên hiệu Bảo Đại thứ 13, ghi chép 16 đời, cụ thể từng ng­ười. Ba sắc phong thời Lê niên hiệu Cảnh H­ưng thứ 44 (1783) phong cho cụ Đinh Trọng Tuấn, ng­ười xã Văn Trinh, huyện Ngọc Sơn từ Phó Thiên Hộ lên Thiên Hộ.

Nhìn chung, từ đ­ường họ Đinh Trọng là công trình kiến trúc gỗ dân gian đồng bằng Bắc Trung bộ còn t­ương đối nguyên vẹn. Các bức cốn, các bức chạm khắc trang trí, 3 bức xuân hoa, 3 cửa bức bàn, địa thu bằng gỗ, đều còn nguyên gốc, đặc biệt có giá trị lịch sử và mỹ thuật. Ngoài giá trị về kiến trúc dân gian, những bức chạm khắc trang trí trong chi tiết kết cấu kiến trúc cho ta thấy sự tài hoa trong bàn tay, khối óc của các nghệ nhân xư­a, đánh dấu một thời kỳ lịch sử có sự phát triển cao về mỹ thuật mà giá trị của nó đã đ­ược công nhận ở nhiều góc độ nghiên cứu. Kiến trúc và chạm khắc trang trí của Từ đường là một sự nhất quán về phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê.

Núi Văn Trinh còn có tên gọi là núi Ngọc Sơn nằm trên địa phận tiếp giáp của ba xã Quảng Hợp, Quảng Ngọc, Quảng Văn thuộc huyện Quảng Xương. Nơi đây được Trần Nhật Duật – một vị tướng tài của triều Trần chọn làm phòng tuyến, đại bản doanh đánh giặc Nguyên – Mông (năm 1285). Về sau là Phủ đệ của ông do vua Trần ban tặng. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, núi Văn Trinh lại được chọn làm nơi đặt đài rada quan sát và là trận địa phòng không bắn máy bay Mĩ khi chúng leo thang đánh phá Miền Bắc năm 1964 và năm 1972. Núi còn có chùa và đền thờ Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật.

Trần Nhật Duật – tên ông đã đi vào lịch sử dân tộc, công lao sự nghiệp của ông gắn liền với núi Văn, sông Lý thuộc vùng đất Quảng Xương. Ông sinh năm 1254 vốn gốc làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định (nay là xã Lộc Vượng – Nam Định) và là con trai thứ 6 vua Trần Thái Tông. T­ương truyền, khi sinh ra trên cánh tay ông có bốn chữ “Chiêu Văn Đồng Tử “, mọi ng­ười cho ông là con của Ngọc hoàng Th­ượng đế giáng sinh. Từ bé ông đã nổi danh hiếu học và sớm lộ rõ t­ư chất thông minh. M­ười sáu tuổi đã thông kinh sử, giỏi thơ phú, sành nhạc luật đặc biệt lại có đặc tài về võ nghệ, thao l­ược, binh thư­, nói đ­ược nhiều ngoại ngữ.

Lúc ông hai m­ươi tuổi đư­ợc giao đặc trách những công việc về dân tộc, ngoại giao với các sứ thần trong triều. Ông làm quan suốt 4 triều vua, từng giữ các chức tước như: Phiêu Kỵ Tướng quân, Thái Úy Quốc công hay Chiêu Văn Đại vương… trấn ải ở ba đạo đó là Đà Giang, Tuyên Quang, Thanh Hóa. Hai lần cùng với vua tôi nhà Trần lập nên chiến công hiển hách, đánh tan quân Nguyên – Mông, dẹp loạn giữ yên đất nước. Trần Nhật Duật là người có công lớn trong sự nghiệp xây dựng đời sống kinh tế, văn hóa ở Thanh Hóa nói chung và Quảng Xương nói riêng. Ông mất ngày 8 tháng 8 năm 1330 (Canh Ngọ) thọ 77 tuổi, đ­ược vua Trần Hiến Tông truy phong “Tá thánh Thái s­ư Chiêu Văn Trần Đại V­ương”.

Khi ông mất, triều đình, vợ con ông lập đền thờ ở sườn núi phía Bắc cách đền trung khoảng 700m về phía Tây. Đền thờ được xây dựng đơn giản, chỉ có 3 bàn thờ bằng đá Nhồi, được đục chạm cẩn thận xếp thành 3 bậc khít nhau từ thấp lên cao. Mỗi bàn cách nhau 10cm, bàn cao nhất được gắn một phiến đá có hoa văn hình cuốn thư, hai bên hông bàn có hai con rồng đá chầu, mỗi bàn có một bát hương đá hình tròn, một mâm bằng đá. Phía trước ba bàn có một hương án cao ngang tầm với bàn trên xây bằng gạch, trên bàn có một bát hương hình vuông có 4 chân quỳ, hai bên hông có hai tai lượn hình ngọn khói bay lên. Bên ngoài có 2 ông tượng đá, quan văn, quan võ đứng gác. Vòng ngoài có chó đá, gấu đá, voi đá bảo vệ, xung quanh lấy đá núi xếp thành tường bao quanh, hai bên đền phía ngoài tường có hai cây đa to phủ kín toàn bộ ngôi đền. Khi ngôi đền mới được xây dựng thì đ­ược gọi là đền Th­ượng.

Nhớ ơn ông, nhân dân trong vùng thường xuyên đến dâng hương tưởng niệm và mong được âm phù giúp đỡ. Vì ngôi đền quá chật không đáp ứng được nguyện vọng của dân, không xứng với công lao to lớn của ông lúc sinh thời, năm Giáp Tuất (1334) theo chiếu của vua Trần Hiến Tông giao cho nhân dân vùng hương Ngọc Sơn (nay thuộc huyện Quảng Xương) chọn nơi trung tâm chỉ huy, nơi cất giữ lương thực vũ khí phục vụ cho cuộc chiến đấu đánh quân Toa Đô năm (1285) để xây dựng đền thờ Chiêu Văn Đại Vương và dân gian gọi đó là đền Trung.

Đền Trung được xây dựng trên khu đất tương đối bằng phẳng, dốc thoải giữa hai khe núi tính từ đỉnh cao nhất của núi nhìn xuống phía bắc. Đền có một khu nhà chữ Công gồm nhà Bái Đường 5 gian, nhà cổ giải vũ và hậu cung 3 gian. Toàn bộ khu này gọi là chính điện, 1 nhà tiền tế 7 gian, 2 nhà giải vũ và một nhà có tháp chuông. Các công trình khác như bể cạn, sân rồng, sân hành lễ được lát gạch, 3 giếng nước đào, 2 ao thiên tạo. Đặc biệt vật liệu làm đền chủ yếu bằng gỗ lim đ­ược khai thác tại chỗ của rừng Ngọc Sơn. Sau khi đền được hoàn thành mọi nghi lễ được nhân dân tổ chức cúng tế, đàn hát như trước khi Đức Thánh còn sống tổ chức cho nhân dân. Như các lễ hội cầu phúc, cầu mưa, lễ tế nghênh xuân vào ngày mùng 1 tết, lễ tế xuân hay còn gọi là ngày lễ khao quân vào ngày rằm tháng giêng. Lễ chính kị vào ngày 8 tháng 8 Âm lịch. Ngày 22 tháng Chạp là lễ tế chạp còn gọi là lễ tạ cuối năm, ngày 25 tháng Chạp là lễ sắp ấn còn gọi là lễ dội. Các ngày lễ thường được tổ chức làm hai phần, bao gồm phần hội và phần lễ. Thời gian lễ hội diễn ra trong 3 ngày, riêng lễ Cầu m­ưa còn gọi là Đảo vũ, lễ này lúc nắng hạn kéo dài mới tổ chức, thời gian dài hay ngắn phụ thuộc vào trời, lễ đ­ược tổ chức cho đến khi trời m­ưa mới thôi. Khu lập đàn tế ở hai nơi là bái cồn May ở Quảng Hòa và bái chợ Lý ở xã Quảng Hợp.

Phần hội được tổ chức phong phú, sôi nổi với các hoạt động giao lưu văn nghệ múa hát như điệu múa hát linh tình phục, hát nhà trò (Nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ đã sưu tầm, xuất bản tập sách Hát nhà trò Văn Trinh), hát chèo, kéo ngựa về lập đàn tế. Tổ chức các trò chơi dân gian, như thi nấu cơm, đánh trận giả, thi làm cỗ sắp lễ dâng thánh. Sửa sang các đồ tế lễ như trang trí kiệu, làm lân, trống, chiêng, mõ… rước múa trước khi về đền.

Phần lễ: Sau hai ngày tổ chức trò chơi lập đàn tế ở các nơi. Đúng vào ngày lễ tế, các nơi tiến hành lễ rước kiệu xuống đền. Thông thường xã Thượng (xã Quảng Hòa ngày nay) rước trước. Xuất phát từ bái cồn May theo thứ tự đội nhạc, trống chiêng đi trước tiếp đó là hai ngựa chầu. Sau ngựa là đoàn khênh kiệu gồm có 16 người. Đi gần hai bên hông phía trước kiệu là đoàn chấp kích, bát biểu. Phía sau kiệu là đoàn múa lân, đi sau cùng là nhân dân đến dự lễ hội.

Đoàn rước của Quảng Hòa đi đến bái chợ Lý thì nhập với đoàn rước của xã Quảng Hợp xuất phát từ cầu Lý đi xuống đền. Khi xuống đến sân hành lễ, kiệu của Quảng Hòa ở bên phải, kiệu của xã Quảng Hợp để bên trái hướng về nhà tiền tế, hai đội múa lân, múa thành vòng tròn 4 lượt nối nhau. Kết thúc đội lân của đơn vị nào thì về vị trí kiệu của đơn vị đó đứng. Tiếp đó là rước ngai thánh vị vào cung theo thứ tự Quảng Hòa rồi đến Quảng Hợp, trống và nhạc đánh trước. Sau khi yên vị thì đến hai đoàn thuyền vừa chèo, vừa hát, sau khi hát thì đến phần dâng lễ theo thứ tự định sẵn. Kết thúc phần dâng lễ là đến phần tế.

Trong phần tế có thể diễn ra hai phần:

– Phần 1: Tế Nam Quan

– Phần 2: Tế Nữ Quan (hát nhà trò dâng thánh)

Trong những năm đất nước bị giặc Minh xâm chiếm, cư dân hương Ngọc Sơn li tán, các hoạt động tế lễ bị gián đoạn. Khi Lê Lợi lên nắm quyền trị vì đất nước, cư dân dần dần về tụ cư làm ăn, làng xã được khôi phục, các hoạt động lễ hội thờ cúng được phục hồi.

Năm Tân Mão (1471), trước khi mang quân đi đánh Chiêm Thành, vua Lê Thánh Tông cho sắm đồ lễ tới đền cầu đảo được đức Thánh âm phù trợ giúp, thắng trận nhà vua hạ chiếu cho nhân dân trùng tu lại đền, đổi tên núi Ngọc Sơn thành núi Văn Trinh, đền Ngọc Sơn thành đền Văn Trinh thờ Đức Thánh Chiêu Văn Đại Vương, thánh Mẫu chính thất phu nhân Trinh Túc, con trai cả nam tử Thánh An, các con trai, con gái trong gia thất Trần Nhật Duật và các quan, binh lính trong triều dưới quyền chỉ huy của ông.

Từ đó, núi Văn, sông Lý, đền thờ Chiêu Văn Đại Vương trở thành tâm điểm của một vùng đất lịch sử địa linh nhân kiệt. Các làng xã trong vùng Văn Trinh cũng được thay đổi ghi đậm dấu ấn lịch sử và công lao to lớn của Đức Thánh.

Năm Giáp Ngọ (1474), đền được trùng tu xong, mái đền được lợp ngói, các họa tiết hoa văn, hoành phi câu đối mang đậm nét đời Trần và xen lẫn thời hậu Lê. Các hoạt động ở đền tiếp tục được củng cố và tổ chức hoành tráng hơn nhất là ở hai xã Quảng Hòa và Quảng Hợp, từ đó các đời vua tiếp theo của nhà Lê, nhà Nguyễn khi lên ngôi đều tặng sắc phong giao cho dân thờ cúng.

Vào 14 tháng 2 năm Đinh Mão niên hiệu Bảo Đại thứ 2 (1927), đền được trùng tu lại nhà tiền tế. Vào những năm trước cách mạng tháng 8 và công cuộc kháng chiến chống Pháp(1945-1954) ngôi đền ít được sự quan tâm, việc hương hỏa cũng bị phai nhạt nhiều, thậm chí ngôi đền cũng bị sử dụng làm trường học năm (1963). Mặc dù vậy nhưng trong tâm khảm người dân vẫn đọng lại hình ảnh ngôi đền, khắc sâu công ơn của Đức Thánh, bảo quản những di vật của Đền như đồ thờ thần phả, câu đối sắc phong…

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa 8) về “xây dựng và phát triển nền văn hóa việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Đ­ược sự chỉ đạo của Huyện ủy – HĐND – UBND, ngành Văn hóa huyện và thể theo nguyện vọng chính đáng của nhân dân địa ph­ương, Đảng ủy, UBND xã Quảng Hợp đã cho phục dựng Đền Văn Trinh và thành lập Câu lạc bộ Hát nhà trò Văn Trinh. Ngày 28 tháng 1 năm 2004, đền thờ đã đư­ợc công nhận Di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định 253/QĐ-CT.

Tháng 6 năm 2004, d­ưới sự quan tâm giúp đỡ của Sở Văn hóa Thông tin (nay là sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa), sự chỉ đạo của Huyện ủy – HĐND – UBND huyện Quảng X­ương và Hội Khoa học Lịch Sử Thanh Hóa đã tổ chức hội thảo Khoa học về khôi phục tôn tạo di tích. Sau hội thảo địa ph­ương đã tiến hành các b­ước như­ khảo sát, thiết kế lập dự toán trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Ngày 26 tháng 1 năm 2005, tại Công văn số 59/VHTT, Sở văn hóa thông tin (nay là sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa), đã phê duyệt chủ trư­ơng phục hồi tôn tạo di tích.

Tháng 2 năm 2005, công trình đ­ược khởi công xây dựng, sau 18 tháng thi công, công trình đền chính đã hoàn thành, với tổng kinh phí 1,5 tỷ đồng (gồm cả kinh phí đền bù giải phóng mặt bằng) bằng nguồn hỗ trợ của nhà n­ước, ngân sách địa ph­ương và nguồn đóng góp công đức của con em địa phư­ơng.

Song song với khôi phục di tích, đ­ược sự chỉ đạo của Huyện ủy – UBND và ngành văn hóa huyện, địa phư­ơng đã tiến hành khôi phục văn hóa phi vật thể hát nhà trò Văn Trinh, lúc đầu tập hợp đ­ược 16 đào n­ương, tập hát, múa đ­ược một số làn điệu nh­ư: hát nói, hát lót, ngâm câu đối, múa dâng h­ương, múa dẫn tế.

Tháng 10 năm 2007, câu lạc bộ hát nhà trò Văn Trinh chính thức đ­ược thành lập gồm 20 thành viên.

Năm 2008, cấp ủy và chính quyền địa ph­ương tiếp tục trùng tu tôn tạo giai đoạn II di tích lịch sử văn hóa đền thờ Trần Nhật Duật (hạng mục nhà tiền tế) với tổng kinh phí gần 1 tỷ đồng.

Năm 2010, địa ph­ương tiếp tục khởi công giai đoạn III. Làm đường vào khu di tích, xây dựng cổng đền, sân hành lễ và hệ thống tường rào khu di tích. Tiếp tục xây dựng kế hoạch mở rộng hoạt động của CLB đào tạo thêm kép đàn và diễn viên trẻ đảm bảo cho sự kế thừa và phát triển của CLB đáp ứng nhu cầu phục vụ lễ hội và quý khách về đền dâng hương, đồng thời xây dựng kế hoạch tiếp tục trùng tu xây dựng các hạng mục còn lại nh­ư nhà giải vũ, tháp chuông và phối hợp với các cơ quan chức năng để xây dựng kịch bản và tổ chức lễ hội Văn Trinh vào những năm tiếp theo.

Với những định h­ướng khôi phục và phát triển trong những năm tới, chắc chắn rằng di tích lịch sử văn hóa núi Văn Trinh và đền thờ Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật sẽ là điểm du lịch hấp dẫn, nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân trong vùng Văn Trinh xưa và của quý khách gần xa.

CHÙA KÊNH (CHÙA HƯNG PHÚC)

(Xã Quảng Hùng)

Chùa Kênh (chùa Hưng Phúc) xây dựng xong vào cuối mùa đông năm Giáp Tý niên hiệu Khai Thái Nguyên Niên (1324) thời Trần Minh Tông (1314 – 1329). Chùa tọa lạc tại hương Yên Duyên – phủ Thanh Hoa (nay thuộc xã Quảng Hùng), thờ đức Phật và Thượng Tướng Minh Tự Lê An, người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai (1285), được triều đình gia phong ” Đô Nguyên Suý Vĩ Thống Quản Đại Thần Trụ Quốc Đại Tướng Quân”, được triều đình cho xây phủ đệ tại hương Yên Duyên. Thượng tướng Lê An sinh được hai người con trai là Đại toát Lê Bằng, Đại toát Lê Bào. Cháu nội của ông là Đại toát Đại liêu ban Lê Mạnh, Đại toát ký ban Lê Nam, Đại toát Ký ban Lê Quảng.

Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ hai (1285) tướng giặc là Toa Đô dẫn thủy quân đi tắt đường Cổ Khê vào Thanh Hóa, Đại toát Đại liêu ban Lê Mạnh đốc suất nhân dân Yên Duyên chặn đánh giặc ở bến Cổ Bút, quân giặc bị đánh bất ngờ, thua to tháo chạy. Vua đã ban khen tinh thần chống giặc giữ nước của nhân dân hương Yên Duyên và Đại toát Đại liêu ban Lê Mạnh, chiến tích đó được khắc vào tấm bia chùa Kênh vào năm 1324, bài Minh và lời tựa khắc trên bia do Thị nội Viên ngoại lang họ Lê soạn. Bia chùa Kênh là tấm bia quý hiếm của thời Trần còn lại ở Việt Nam, có giá trị về nhiều mặt lịch sử, văn học nghệ thuật, văn hóa tư tưởng.

Từ giữa thế kỷ XIV, chùa Kênh là nơi thờ phụng đức Phật và lục vị tướng công họ Lê. Sau hơn 500 năm, vào mùa xuân năm Canh Thân thứ 13, niên hiệu Tự Đức (1859), thực hiện chiếu chỉ của triều Nguyễn: “phàm những chùa cổ, bia cổ có ghi công tích của các võ tướng, văn thần ở các nơi đều phải sao lục đầy đủ để tâu lên trên”, hội Vũ làng Trường Tân (thuộc xã Quảng Hùng) do ông Đỗ Danh Quán đứng đầu đã tôn tạo ngôi chùa thêm khang trang, đẹp đẽ, khắc lại tấm bia cho sắc nét hơn.

Nội dung văn bia về tướng công họ Lê do hội Vũ làng Trường Tân soạn có đoạn: “Nhớ lại tướng công họ Lê được nước non chung đúc thành phong cách khôi vĩ, cơ cầu nối được nghiệp cha, can thành giữ được đất nước, cha con, anh em một nhà nối nhau làm tướng, thật là đấng anh kiệt đi trước mở đường cho làng ấp ta. Người con tốt, kẻ tôi trung, công tích rực rỡ nghìn năm sau, trong tấm bia chùa Kênh có thể tưởng nhớ mãi”.

Nguyên văn bài “Minh” khắc trên trán văn bia:

“Nam quốc chi sơn

Đông Hải chi thủy

Tả bàng, Hữu nỗ

Đỉnh bình, tượng mỹ

Thanh thục uyên đình

Hữu nguyên, hữu ủy

Xã điện, ủy đế

Vi long, vi ủy

Duy bỉ Lê công

Chung thử khôi vĩ

Vi quốc chung thần

Vi gia lệnh tử

Khái niệm tiền quân

Tu sùng tích thị

Lưu mục di cấu

Khắc tế tiên qủy

Khai thái, thiệu long

Giáp tý xuân thủ

Phụ cơ tử đừng

Hiếu vô chung thủy

Vi thiện chi bào

Tích loại chi chỉ

Tòng tư thủy hủy”

Dịch: Đông Hải là biển Hữu bộc tả chầu Hình châu, dáng ngọc Trong vắt, thẳm sâu Có sau, có trước Cắt đầu, uốn khúc Như rắn, như rồng Họ Lê có công Khôi ngô tuấn tú Với nước: Tôi trung Với nhà: Con hiếu Kính nhớ tổ tiên Tôn sùng đạo phật Mở nền chùa cũ Nối chí người xưa Năm Tý, Thiệu Long Tiết xuân, Khai Thái Cha đắp con xây Hiếu nghĩa vẹn toàn Làm thiện để báo Chứa phúc để vui Ôi! tốt đẹp thay Biết theo trước vậy.

Chùa Kênh do Lê Mạnh xây dựng có thể nói là một công trình kiến trúc bề thế, như một danh lam cổ tự. Kiến trúc ấy qua văn bia, được dịch như sau:

“Điện Phật một tòa phía trước

Phòng Tăng mấy dãy đằng sau Bảo tọa cột đá rồng leo, đường nét tuyệt vời trong cõi thế Phật đường uyên ương ngói lợp, bóng hình bay bổng sáng tầng mây. Thềm xây đá quý Sân lát hoa kỳ Gió thổi rừng tùng tưởng khúc nhạc cung tiên hòa tấu Trăng soi bóng trúc như hào quang cõi Phật chiếu về Cổ thụ xum xuê ngỡ thấy Bồ đề tỏa bóng

Chùa Kênh (chùa Hưng Phúc) là một công trình kiến trúc độc đáo, gắn liền với một thời kỳ phát triển rực rỡ của đạo Phật. Thời gian và những biến cố lịch sử khiến cho chùa cũ không còn. Nhưng bằng tấm lòng tri ân các bậc tiền nhân đã tạo dựng, ngôi chùa đã được nhân dân luôn hưng công trùng tu tôn tạo. Đặc biệt, tấm bia đá chùa Kênh, không chỉ là một công trình điêu khắc nghệ thuật mà giá trị cao quý của nó, minh chứng cho những chiến công vang dội của quân và dân Quảng Xương trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông ở thế kỷ XIII.

NHÀ THỜ TƯỚNG QUÂN LÊ ĐÌNH KHIÊM

(Xã Quảng Khê)

Ở làng Hà Nữu – nay thuộc địa phận thôn 2 và thôn 7 xã Quảng Khê, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa có di tích nhà thờ Lê Đình Khiêm – danh tướng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427).

Ông Lê Đình Khiêm thuộc đời thứ IX của dòng họ Lê Đình, một trong số dòng họ có mặt từ những ngày đầu trong công cuộc khai thiên lập địa, xây dựng nên làng Hà Nữu, nay thuộc xã Quảng Khê. Trong tiến trình sinh cơ lập nghiệp, con cháu dòng họ Lê Đình ngày càng đông đúc và chia thành 3 chi: Lê Đình, Lê Thế, Lê Ích. Ông Lê Đình Khiêm là ông tổ của chi họ Lê Thế.

Theo Gia phả dòng họ Lê Đình: Ông Lê Đình Khiêm sinh ngày tháng năm nào chưa rõ?, tên tự là Phú Thiện. Ông mất ngày 26 tháng 2 âm lịch, không rõ năm. Ông tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427) do Lê Lợi khởi xướng và lãnh đạo. Ông là một trong những danh tướng của Lê Lợi tham gia nhiều trận chiến và lập được nhiều chiến công, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi trọn vẹn, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phục hưng dân tộc lần thứ hai hiển hách trong lịch sử dân tộc. Ông được nhà vua ban sắc phong tặng là Đô Chỉ huy sứ, Hùng Vũ đại vương.

Để ghi nhớ công lao đức nghiệp của tướng quân Lê Đình Khiêm trong công cuộc bình Ngô phục quốc ở thế kỷ XV, con cháu họ Lê Thế đã xây dựng nhà thờ để hương khói phụng thờ.

Nhà thờ họ Lê Thế được xây dựng vào khoảng năm 1442 (thời Hậu Lê), kiến trúc theo kiểu chữ “Đinh”, gồm tiền đường và chính tẩm. Đến năm 1926, ngôi nhà thờ bị hỏa hoạn. Sau đó con cháu trong dòng họ xây dựng lại nhà thờ mới trên nền đất cũ. Đến khoảng năm 1960 – 1961, trong phong trào hiến tặng vật liệu của các đền nghè, miếu mạo, chùa chiền để xây dựng trường học, dòng họ Lê Thế đã hiến tặng cho địa phương toàn bộ vật liệu nhà thờ để xây dựng trường học. Về sau dòng họ đã xây dựng ngôi nhà gỗ 4 gian lợp lá cọ ở chính nơi ông Lê Đình Khiêm ở trước đây. Hiện nay ngôi nhà tọa ở phía sau nhà thờ mới xây lại.

Năm 2002, do nhà thờ ông Lê Đình Khiêm bị xuống cấp và để tách riêng nơi thờ cúng ông với con cháu, họ Lê Thế đã xây dựng mới nhà thờ của họ trên khuôn viên phía trước nhà thờ cũ. Nhà thờ của họ Lê Thế hiện nay nằm bên cạnh khu di tích lịch sử cách mạng của huyện. Nơi đây là cái nôi cách mạng họp ban khởi nghĩa cướp chính quyền của Mặt trận Việt Minh huyện Quảng Xương trong cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Cách mạng tháng 8 năm 1945.

Hiện nay trong nhà thờ còn lưu giữ được bức đại tự có đề 3 chữ Hán: ” Vạn cổ niên ” và phục chế lại hai đôi câu đối:

“Chỉ huy đô sứ nam thiên tướng

Hùng vũ uy linh bắc địa thần”

Đại tướng gia ban tăng cấp tiến Tước vương đắc tuyển điện tiền phong

Ngày 16 tháng 11 năm 1998 nhà thờ Tướng quân Lê Đình Khiêm và từ đường họ Lê Thế đã được công nhận là di tích cấp Tỉnh theo Quyết định số 393/QĐ-VHTT.

Để phát huy giá trị của khu di tích trong việc giáo dục truyền thống theo đạo lý “uống nước – nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”, hàng năm cứ đến ngày 10 tháng Giêng âm lịch (mồng 10 tết Nguyên Đán) con cháu trong dòng tộc lại tập trung đông đủ về đây để làm lễ cúng tế Tổ tiên, qua đó nhằm động viên khuyến khích, giáo dục mọi người ý thức trách nhiệm giữ gìn những nét đẹp truyền thống của dòng họ, quê hương và phát huy truyền thống đó để xây dựng một dòng họ có những con người có đức, có tài góp phần xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp.

NHÀ ÔNG NGUYỄN ĐỨC THUẦN

DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG

(Xã Quảng Khê)

Nhà ông Nguyễn Đức Thuần ở làng Hà xã Quảng Khê, là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của Đảng bộ huyện Quảng Xương từ thời kỳ đầu năm 1931 đến những ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945. Đây cũng là nơi diễn ra sự kiện thành lập Ủy ban Cách mạng lâm thời huyện Quảng Xương, vào đêm 20 tháng 8 năm 1945.

Làng Hà trước kia có tên là ấp Hà Ngưu (được gọi là nội ấp) và Hà Thạch (được gọi là ngoại ấp) được hình thành từ lâu đời. Đến thế kỉ XVIII, các ấp này mới hình thành các thôn gồm: thôn Hà Ngưu và thôn Hà Thạch, cách đặt tên như vậy là chọn theo phương vị của làng (trong và ngoài) và khuynh hướng chọn chữ đẹp, ý hay để đặt tên làng. Tên gọi Hà Ngưu có ý chỉ vùng đất này sáng như sao Ngưu Đẩu mà sau này trong bức đại tự ở nghè làng có khắc bốn chữ để chỉ về vùng đất Hà Ngưu là “NGƯU ĐẨU TINH QUANG”, còn Thạch Phương (Hà Thạch) là chỉ vùng đất vững như bàn thạch mà người dân nơi đây vẫn gọi là “An định thạch bàn”. Bóng dáng truyền thống của làng Hà còn được lưu lại trong kí ức người dân trong các nhân vật truyền thuyết như Châu Ngoạn Nương được nhân dân tôn thờ và vua Lý Thái Tông phong sắc; các võ quan như Lê Đình Khiêm thời Trần, Lê Xuân Bình thời Nguyễn được lịch sử ghi công; những người học hành đỗ đạt như Nguyễn Sĩ Vạn (triều Nguyễn – Tự Đức) và hàng chục tú tài, bán tú tài khác được bổ chức quan thời xưa. Vì vậy mà từ xa xưa người dân vùng này còn lưu truyền câu thành ngữ ” Lúa Ngưu Lan, quan Kẻ Hà ” là vì vậy.

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, lịch sử đã tiến những bước dài, nhưng ngôi nhà ông Nguyễn Đức Thuần ở làng Hà, xã Quảng Khê mãi mãi là một di tích lịch sử cách mạng tiêu biểu về lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Quảng Xương trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành chính quyền về tay nhân dân.

Ngoài những giá trị về lịch sử cách mạng, nhà ông Nguyễn Đức Thuần còn có giá trị về mặt văn hóa và kiến trúc nghệ thuật. Nhà được xây dựng gần 100 năm, có cấu trúc 3 gian 4 vì kèo gỗ được kiến trúc theo kiểu chồng rường kẻ bẩy – một loại hình kiến trúc dân gian truyền thống tiêu biểu ở đồng bằng Thanh Hóa.

Do có giá trị về lịch sử và cách mạng, nhà ông Nguyễn Đức Thuần đã được xếp hạng là di tích Lịch sử cách mạng cấp Tỉnh ngày 19 tháng 10 năm 2004 (theo Quyết định số 3283/QĐ-CT).

ĐỀN THỜ BÙI KIM TƯƠNG

(Xã Quảng Lộc)

Ở làng Lê Xá, xã Thủ Hộ, tổng Thủ Chính, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia – nay là làng Lê Hương, xã Quảng Lộc, huyện Quảng Xương có ngôi đền thờ quan Tri phủ Bùi Kim Tương – người đã có công lao to lớn đối với đất nước, quê hương ở thế kỷ XVIII.

Làng Lê Hương, xã Quảng Lộc, huyện Quảng Xương ngày nay là một vùng đất có bề dày lịch sử.Vào nửa cuối thế kỷ XV, thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” do vua Lê Thánh Tông ban hành, một số quan lại và binh lính được trở về quê hương bản quán để khai khẩn ruộng nương, lập ấp dựng làng. Nên làng Lê Xá có tên gọi từ đó. Bấy giờ, làng Lê Hương chỉ có 3 dòng họ: Họ Lê, họ Nguyễn và họ Bùi. Đến đầu thế kỷ thứ XVI, làng Lê Hương đã có 8 dòng họ và làng được chia thành 4 xóm gồm: xóm Đông, xóm Giữa, xóm Chợ và xóm Đường Nang.

Theo Gia phả dòng họ Bùi cho biết: Ông Bùi Kim Tương sinh ra và lớn lên ở làng Lê Xá, xã Thủ Hộ (nay là xã Quảng Lộc, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa). Ông sinh ngày mùng 5 tháng 11 năm Bính Thân (1716). Ông là người có tư chất thông minh, dung mạo đĩnh đạc, có tấm lòng nhân ái bao dung, giữ trọn đạo hiếu với cha mẹ, thân ái với bà con làng xóm, trung thành với nhà vua.

Cuộc đời và sự nghiệp của ông bắt đầu có những bước ngoặt từ những năm 1730 – 1780, xã hội Lê – Trịnh bị suy yếu, nền kinh tế đất nước sa sút nghiêm trọng, hạn hán, lũ lụt liên tiếp xảy ra, cuộc sống của người dân vô cùng khốn khó. Nhiều phong trào đấu tranh của nông dân liên tiếp nổ ra chống lại triều đình. Năm 1770, triều đình phong kiến Lê – Trịnh căn bản đã dẹp xong các cuộc nổi dậy của nông dân ở đàng ngoài. Trong giai đoạn này, tại làng Lê Xá, ông Bùi Kim Tương là bậc hào trưởng trong vùng đã đóng góp một phần công sức của mình trong việc giúp đỡ triều đình. Ông đã cùng với quan thống lĩnh Vịnh Quận công và quan Thống lĩnh Hải Quận công đốc thúc các đinh phu đắp luỹ, đánh phá các đạo ở Nghệ An, Ba Giang, Đá Mai giành được thắng lợi. Ngoài ra, ông đóng góp nhiều công sức đối với dân, làm nhiều việc thiện, được dân làng kính trọng. Nhiều lần ông tự xuất tiền của giúp dân trong vùng đắp đê ngăn mặn để cấy lúa.Ông đã cùng với nhân dân đắp đê sông Bố Vệ để phòng lũ lụt (nay thuộc Thành phố Thanh Hóa).

Với nhiều công lao to lớn với nước với dân, ông Bùi Kim Tương đã được nhà vua phong thưởng nhiều lần. Năm 1755, ngày 25 tháng 11, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 16, vua Lê Hiển Tông ban sắc khen ngợi ông như sau: ” Sắc cho quan viên mục thông huyện Bùi Kim Tương người xã Thủ Hộ, tổng Thủ Chính, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia là bậc hào trưởng xứ Thanh Hoa theo quan thống lĩnh Vịnh Quận công. Lại theo sai phái kiêm thống lĩnh quân là Hải Quận công, đốc thúc các đinh phu đắp đất luỹ, có nhiều công lao, nay chỉ thiết ứng cho nhận chức Huyện thừa, đáng là bậc tiến công thúc lang huyện thừa huyện Trung Thuận, hạ chế cho ban sắc”.

Trong tờ sắc ngày 6 tháng 3 năm Cảnh Hưng thứ 29 (1768), ông lại được nhà vua ban sắc phong thưởng: “Sắc tiến công thúc lang huyện thừa Trung Thuận làm hạ chế Bùi Kim Tương, là hào trưởng cai quản địa phương, lại theo quan thống lĩnh đi trước Hải Quận công đi đánh các đạo ở Nghệ An, các trận Ba Giang, Đá Mai giành được thắng lợi, được nhận ban nhiều loại là bậc đệ tử, nay chỉ thiết ứng tăng chức Đồng Tri phủ, đáng là bậc cần sự lang, Đồng Tri phủ Trường Khánh, bậc hạ liêu cho ban sắc”.

Ông mất ngày 21 tháng 9 năm Giáp Ngọ (1774 ), thời vua Lê Hiển Tông (1740 – 1786).Triều đình nhà Lê nghe tin ông mất liền cấp tiền mai táng và hương khói thờ phụng. Để ghi nhớ ân đức lớn lao của ông, dân làng đã lập đền phụng thờ ông và tôn ông làm Phúc thần và là Thành hoàng làng Lê Xá. Hàng năm vào ngày 21 tháng 9 Âm lịch, nhân dân trong làng tổ chức lễ tế thần để tưởng nhớ công lao to lớn của ông.

­­­Theo các cụ cao niên trong làng cho biết: Đền thờ Bùi Kim Tương trước đây được xây dựng tại làng Lê Xá, nhưng trải qua sự biến thiên của lịch sử, ngôi đền bị phá hủy. Năm 1990, với sự đóng góp của con cháu trong dòng họ Bùi cùng với chính quyền và nhân dân địa phương, đã tổ chức xây dựng lại ngôi đền. Đền nằm trên một khu đất cao ráo thoáng mát với diện tích 250m 2, quay mặt về hướng Nam, gồm tiền đường 3 gian, hậu cung, bố cục theo kiểu chữ Đinh (J). Hiện nay,còn lưu giữ được 17 hiện vật cổ tiêu biểu như: Hương án bằng gỗ, bành kiệu bát cống, long ngai, giao ỷ thần vị, bảng đọc chúc văn sơn son thếp vàng, hộp đựng sắc, hai tờ sắc phong thời Lê và nhiều hiện vật khác có giá trị.

Đến ngày 17 tháng 11 năm 1998, đền thờ Bùi Kim Tương ở làng Lê Hương, xã Quảng Lộc đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh theo Quyết định số 394/QĐ-VHTT.

Cuộc đời và sự nhiệp của ông Bùi Kim Tương là tấm gương tiêu biểu tô thắm trang sử vàng truyền thống của dân tộc, của quê hương để thế hệ hôm nay và mai sau luôn nêu cao truyền thống yêu nước, lòng tự hào tự tôn dân tộc, kế tục sự nghiệp của các thế hệ đi trước ra sức phấn đấu học tập, tu dưỡng và rèn luyện, sẳn sàng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.

Đền thờ Bùi Kim Tương ở làng Lê Hương, xã Quảng Lộc là di sản văn hóa có giá trị về nhiều phương diện, góp phần làm phong phú kho tàng di sản văn hóa trên đất Quảng Xương ngàn năm văn vật.

CHÙA MẬU XƯƠNG – TUYẾT PHONG TỰ

(Xã Quảng Lưu)

Chùa Mậu Xương xã Quảng Lưu, nằm trên khu đất hình thang “Đầu rồng” có diện tích tự nhiên là 12.500m 2. Phía Bắc giáp đường làng, phía Đông Tây nối từ đường 4A, qua 4B, qua 4C ra tận bờ biển xã Quảng Lưu, phía nam giáp với cánh đồng, phía Đông giáp với đường 4B, phía Tây giáp với đường 4A. Vị trí và diện tích của Chùa đã quy hoạch trong bản đồ tổng thể của xã Quảng Lưu và đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Là ngôi chùa thờ Phật, gắn liền với sự giáng sinh của Phật Tổ và Liệt Thánh nội đạo. Chùa hình thành từ thời Trần, thuở sơ khai, Chùa có tên là Tuyết Phong, đến thời Lê, Chùa có tên là Tuyết Sơn Phong. Khi Phật Tổ giáng hạ và làng đổi tên thì Chùa có tên gọi là Yên Đông, đến năm 1830 làng Yên Đông lại đổi tên là làng Mậu Xương và từ đây Chùa mang tên là chùa Mậu Xương, xã Quảng Lưu ngày nay.

Vào giữa thế kỷ thứ XIV, năm 1368 năm Mậu Thân, có đôi vợ chồng họ Trần thời Minh ở Trung Quốc lưu cư sang Việt Nam trú tại Thanh Hoa tỉnh, Ma Xương huyện, Yên Hương xã, Làng Nguốn (tức là làng Mậu Xương, xã Quảng Lưu ngày nay). Mùa thu ngày 1 tháng 8 năm 1390, vợ chồng đào được 2 bình vàng. Đến tháng 2 năm 1420 (Nhâm Dần)hoàn trả lại cho khách Tàu (vì họ đến tìm của theo gia phả).

Lệnh bà mất ngày tháng năm nào không chép lại.

Đến tháng 3 năm 1432 năm Nhâm Tý, có thầy Cao Tăng nước Tầu đến tìm ông bà để báo ơn nhưng ông bà không còn nữa, Cao Tăng bảo con trai của ông bà: Tại vườn bà đây, có huyệt đỉnh thượng, đạo nghiệp nhất sư lưỡng quốc, lại có tam long đáo hải, tứ phượng trình đường, nhất long lưỡng mộc song trùng kiến, tiền tắc hồ tăng bái phục, hậu tắc quốc long dẫn mạch, tả tắc ngũ hổ, chinh kỳ bái phục, hữu tắc bát bộ kim cương đồng tọa, lưỡng phương cửu thủy dẫn mạch, bát nhã lưu hành thủy diện, mộc xích tung hoành đáo hậu. Nay nhà ngươi đem hài cốt Tôn ông, Lệnh bà cất tại huyệt này, lập điện thờ tất có đại cát.

Ngày 2 tháng 5 năm 1432, cất mộ bà tầng dưới, mộ ông cất ở tầng trên, lập lều cỏ một tòa, đặt một lô nhang ngày ngày cầu nguyện.

Nam Thiên gia phả có ghi:

Lều mao nhất tòa Lô nhang nhất vị”.

Thờ Tôn ông là: Tự Pháp Hoa. Lệnh bà: ( không chép lại).

Từ đó là sơ khai Điện thờ “Tuyết phong” nhân dân trong vùng thường đến cầu nguyện và hương đăng. Sau đó được tôn tạo xây dựng thành Tuyết Sơn Phong tự.

Hậu thế họ Trần tại làng Nguốn Thôn – Yên Hương xã sinh ra đông đúc, có nhiều người làm quan tại triều Lê.

” Bỗng bởi đâu sự giời xui khiến

Thấy một ông lão lượng lững lơ Mờ mờ bóng dáng còn xa Tay nâng quyển ngọc ở ca non thần Bèn khẽ thủ ân cần than thở Phúc về đâu, gặp gỡ về đâu”

Ngài trình bày bệnh của cha với Tôn sư và Tôn sư cùng Ngài vào chùa Tuyết Sơn cầu nguyện. Tôn sư lấy 100 nén hương và 3 chén nước lạnh đăng đàn, cầu giải bệnh cho cha ngài. Tôn sư bảo Ngài, khi xong nhà ngươi mang nước lạnh và tàn nhang đem về cho cha uống, bệnh sẽ khỏi. Đến canh ba tỉnh dậy, Ngài không thấy Tôn sư đâu, nhìn lên đàn còn lại 7 cây hương, ngài vội đem nước lạnh về cho cha uống. Quả nhiên bệnh đó khỏi hẳn. Trần Ngọc Trân vội đến chùa lấy 7 cây hương và lập 7 lô nhang, lập bàn thờ trong điện và tôn tạo lại chùa rộng rãi, vững chắc hơn. Từ đó Chùa thờ Thượng Không Phật và Chư vị tôn linh, tên Chùa là Tuyết Sơn Phong.

Phật lục có câu:

“Thất truyện di hương thành Phật đạo

Lục thông thần trí trấn anh linh”

Năm Đinh Mùi (1607), Trần Tướng Công (Quỳnh Lâm Hầu) là cha của ngài đã quy tiên, bà Hiệu Từ Ái cũng quy tiên ngày 8/10 (không ghi năm nào). Trần Ngọc Trân quy táng ông bà và đưa linh vị vào chùa Tuyết Sơn Phong thờ phụng.

Mùa thu năm Bính Dần 1626, Ngài bỗng thấy trời mây đen tối, Ngài nhìn lên điện thờ đã thấy Tôn sư ngồi uy nghiêm mà nói rằng: Ta với con vốn có tiền nhân, nay đến đây báo đạo vài lời tiễn biệt. Ngài vội khấu đầu nói: Từ khi được 7 nén hương để lại phụng thờ, một lòng kính mộ, há dám hẹn lại, nay thấy Tôn sư xin xả thân đầu giáo, nhưng chưa cởi bỏ tấm thân phàm tục, phỏng biết có được không ?

Phật lục có câu:

” Tan canh ba tay trao miệng rỉ

Dẫn đạo mầu quyết bí lục thông Truyền phép giá vũ phi phong Phi thân biến tướng dáng long hiện hình Truyền phép tróc qủy, trừ tinh Siêu phàm nhập thánh, anh linh vô cùng Quản tri tam giới thập phương Trừ tà trị bệnh uy càng nghiêm trang”.

Ngài ra tay cứu nhân, giúp đời, dẹp yêu trừ quái.

Sách Phật lục có câu:

” Nam Quốc phương danh Tam Bảo địa

Trần môn xuất thế lục thông thần Yên Đông thắng cảnh địa ma xương Trần gia phát tích thiên Thanh Hóa”.

Ngài giáng hạ giúp đời, giờ Dần ngày 11 tháng 6 năm 1583 (năm Quý Mùi). Ngài quy tiên giờ Dậu ngày 28 tháng 01 năm 1643 (Quý Mùi), thọ 60 tuổi. Từ đó nhân dân trong vùng hàng năm làm cỗ đến Chùa để lễ kỷ niệm ngày mất của Phật Tổ là ngày 28/1 hàng năm.

Phật mẫu là bà Hiệu Từ Kế mất ngày 10/8 (không ghi rõ năm nào).

Hậu duệ của Phật tổ là Từ Thánh đó là:

– Ông Trần Nhật Tích là Tả Nhật Quang Tôn Thánh.

– Ông Trần Ngọc Khang là Hữu Nguyệt Quang Tôn Thánh

– Ông Trần Ngọc Vinh là Ngọc Quang Tôn Thánh.

– Ông Trần Ngọc Dinh là Hậu Quang Tôn Thánh

Các vị tứ Thánh cùng với các đệ tử Tự Pháp Mô, Tự Pháp Cống sửa sang, xây dựng lại chùa đã có quy mô to lớn từ thời Lê. Lập tĩnh đường Từ Minh ở Hoàng Long, truyền đạo pháp cho môn sinh có lúc tới hàng vạn người. Về sau được vua Lê Thần Tông phong sắc Nội Đạo Tràng và Thiên Tâm Chính Pháp.

Hàng năm, nhân dân làng Mậu Xương có các ngày hội, ngày lễ như ngày 14, 15 tháng Giêng. Ngày 28/1, ngày 23/11 và các ngày giỗ kỵ liệt thánh. Từ đó, khách gần xa đến Chùa lễ Phật ngày càng đông, không ngày nào là không có khách.

Ở thời Lê, Chùa có quy hoạch mặt bằng hình chữ Tam (≡).

* Cung thứ nhất: Cung chính tẩm thờ Thượng Không Phật Bảo.

+ Hậu cung thờ Mẫu Liễu Hạnh và chư vị Phật Mẫu, Nhị vị Tiên cô.

+ Tả thờ Thập Bát Long Thần

+ Hữu thờ Ngẫu Đức Thổ Địa.

+ Dưới bàn binh thờ Ngẫu Hổ, Bạch Xà, Nha Tượng….

+ 2 nhà xuyên thờ Bát Bộ Kim Cương.

* Cung thứ 2: Thờ Tam Bảo Ngoại và Quan Âm Bồ Tát.

+ Bên tả: Thờ Đức Ông

+ Bên hữu: Thờ Thánh Hiền và Chư vị Thần Tổ Làng Mậu Xương.

2 bên hồi đối xứng

+ 1 bên thờ Thần – Cao Lộc và Tứ vị Thánh Nương.

+ 1 bên thờ Thiên đột, Thổ địa.

Ngày nay do nhu cầu của nhân dân và số lượng khách đến chùa ngày càng nhiều, được sự đồng ý của các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện, phê duyệt thiết kế quy hoạch di tích như sau:

– Xây cung Thánh Mẫu bên tả thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh và Liệt Vị Phật Mẫu nhị vị Tiên cô.

– Xây Cung Thờ Thủy Tổ bên hữu thờ Thủy tổ và liệt vị Thần tổ trong làng và thổ địa Thần tài, các anh hùng liệt sỹ trong làng.

– Phía ngoài còn có nhà cho khách có nhu cầu gửi lô nhang gia tiên, hay lô nhang thất tự, chính diện có tháp chuông, tất cả bố trí theo trình tự đã có quy hoạch năm 2005.

– Cung Chính tẩm và 2 nhà xuyên, cung thứ 2 và cung thứ 3, 2 nhà tả hữu. gác chuông, nhà bia và ngõ cổng ngoài đường 4A.

Xung quanh sân Chùa xây tường dắc, thời kỳ này chùa Mậu Xương rất khang trang và cung kính nghiêm trang.

Nguồn vốn do ông bà Cung Duy Tâm và nhân dân làng Mậu Xương công đức, khánh thành Chùa có Quan tỉnh, huyện, Cai tổng, Lý trưởng và nhân dân trong ngoài vùng tấp nập về Chùa lễ Phật từ 4 /1 đến ngày 30/1 năm 1937.

Tổ chức lễ hội có trò chơi đánh vật, đánh đu, chèo thuyền, đốt pháo bông, hát bội, hát nhà trò…

Từ năm 1991 – 2010:

Tháng 3 năm 1991, các cụ và nhân dân trong làng đã bầu ra Ban vận động gồm 6 người, huy động nguồn vốn của nhân dân trong làng dựng lại Chùa bằng tre, kè, trên nền Chính tẩm (Cung 1).

Ngày 16 tháng 6 năm 1992, do nguồn vốn của khách thập phương và nhân dân trong làng từ nhà kè đó làm lại nhà cấp 4 bằng gạch, gỗ, lợp ngói máy, diện tích là 63m 2.

– Tháng 10 năm 1993, xây 2 nhà xuyên, diện tích là 12m 2 vật liệu bằng bê tông hóa, lợp ngói Hạ Long

– Tháng 3 năm 1995, xây tường rào xung quanh là 650m.

– Tháng 2 năm 1996, làm nhà để phục vụ, bê tông hóa, diện tích là 42m 2.

– Tháng 10 năm 1997, xây cung thứ 2, 2 tầng mái kiểu tiền bẩy hậu kẻ, bê tông hóa, diện tích là 65m 2.

– Tháng 3 năm 2001 xây cung thứ 3, 2 tầng mái, kiểu nhà gỗ, bê tông hóa, diện tích 117m 2.

– Tháng 3 năm 2003, xây gác chuông, cao 11,5m, 3 tầng, 3 gian, 2 bên có đường lên xuống, diện tích 44m 2.

– Tháng 3 năm 2005, xây cung Thánh Mẫu, 2 tầng mái, lợp mái ngói Hạ Long, diện tích 88m 2.

– Năm 2006, đào ao, kè ao, làm sân, làm nhà vệ sinh, nhà phục vụ.

– Năm 2007 – 2008, xây cổng Tam Quan. Làm đường vào Chùa.

– Năm 2009 – 2010, xây cung Thủy Tổ, bê tông hóa, 2 tầng mái, kiểu nhà cổ, diện tích 72m 2.

Mua sắm đồ thờ, nội thất như đồ đồng, đồ gỗ, đồ gốm và cỏc vật thể phục vụ cho việc lễ Phật tương đối hoàn chỉnh.

Xung quanh vườn chùa trồng cây xanh, sân đặt cây cảnh, bể cạn, bể hoàn ngọc, ao chùa tương đối khang trang theo quy hoạch tổng thể. Khu di tích còn phải tiếp tục xây 5 công trình, dự kiến đến năm 2021 phải hoàn thành.

Là ngôi chùa gắn liền với sự tích Phật giáng sinh và liệt Thánh (nội đạo). Vì vậy lễ Phật hàng năm có rất nhiều ngày trọng thể.

1. Lễ Triều dạ đêm giao thừa và 3 ngày tết Nguyên đán.

2. Lễ Hội làng ngày 14 và 15 tháng Giêng. Rước Linh vị ở các Nghè thần về chùa. Rước cỗ cụ Chỉ.

3. Lễ huý kỵ Phật Tổ ngày 28/1, rước cỗ cụ Thủ Chỉ trong làng.

4. Ngày 20/5, ngày 8/7 và ngày 23/11 hàng năm làng tổ chức lễ huý kỵ các vị Liệt Thánh.

5. Ngày 5/5 và 15/7 và 8/4 tổ chức lễ Phật và cùng chúng sinh cô hồn.

Các ngày lễ trên tổ chức trọng thể và hành lễ theo kinh sách lưu lại của Nội đạo.

Chùa Mậu Xương là di tích lịch sử văn hóa, có bề dày hơn 500 năm, một niên đại như vậy nên không còn những di tích vật thể ban đầu, nhưng đã được nhân dân địa phương và khách thập phương đóng góp xây dựng nhiều lần, đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh ngày 25 tháng 1 năm 1998. Quá trình xây dựng, tôn tạo đã khẳng định giá trị tinh thần tín ngưỡng Phật đạo của nhân dân ta.

Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và Chính quyền xã Quảng Lưu cùng với Ban quản lý di tích chùa Mậu Xương hoạt động, phát triển văn hóa phi vật thể và tôn tạo, xây dựng ngày càng khang trang theo định hướng văn hóa du lịch trong giai đoạn mới.

ĐỀN THỜ NGUYỄN HỮU HUÂN

(Xã Quảng Lưu)

Nguồn tài liệu thứ nhất xác định Nguyễn Hữu Huân là người có công “chép trong sách ” Dực vận phù quốc” (Lớn lao phù giúp đất nước) được làng Lưu Hiền tôn thờ làm Phúc thần, được ghi sách được bộ Lễ Thanh Hóa chư thần lục “. Một cuốn biên soạn vào niên hiệu Thành Thái thứ 15(1903) .

Nguồn tài liệu thứ 3: Thần chủ hiện tại đền thờ ông ghi : iều sắc tặng phong Tuấn lương Đại vương thần vị”. “Đương cảnh thành hoàng Lê

Văn tế thần chữ Hán ghi nguyên văn như sau: “Dực vận phù quốc thần võ, phúc khánh hiền lương, nhung uý trung dũng, thần tổ hậu đức phong công, sưu quần bạt tuệ, thảo bí kế nhi, tiêm trừ khôi liệt, tiết phục thần quan, phi cương quán quân, phồn nhi tuyên ứng, kiềm lê trách nhiệm, biên cương trọng ký, Cao Bằng tự hợp, cảnh phiên duy liên ấp nhiệm, nhất phương chi chúa tể”.

Theo chính sử: Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục ghi chép rất rõ: B ấy giờ đảng ngụ ở các xứ đều nổi lên, chúng cướp bóc, quấy nhiễu sở tại, các châu huyện bị đau khổ vì chúng. Nhà Mạc bị thất bại liên tiếp liền chạy sang cầu cứu Nhà Minh (Trung Quốc). Được sự che chở của các thế lực phong kiến nước ngoài, con cháu tướng tá nhà Mạc đã chiếm cứ Cao Bằng và xây dựng nơi đây thành một triều đình nhỏ, đối lập và chống lại chính quyền Trung ương.

Mùa xuân năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677) , Trịnh Tạc sai Đinh Văn Tả, Nguyễn Hữu Huân đem qu ân đi đánh Mạc Kính Vũ ở Cao bằng. Vũ thua chạy sang Trung Quốc, dư đảng nhà Mạc kể từ Kinh Dụ đến Kinh Vũ, trải qua 3 đời gần 85 năm chiếm cứ Cao Bằng. Đây là trận trị Mạc cuối cùng, nhà Mạc hoàn toàn chấm dứt , đất Cao Bằng đặt dưới sự cai quản của chính quyền t rung ương.

Trong trận chiến đấu này, Nguyễn Hữu Huân đã hy sinh . Triều đình đưa thi hài ông về an táng tại quê hương ở thôn Lưu Hiền, khu mộ chí của ông được khoanh vùng với diện tích là 5 . 000 m tháng 2 m lịch, triều đình cử quan quân về tế giỗ ngài, ngài được nhà vua ghi công ” 2 ở cồn Cổ Hạc (còn gọi là khu Mả Quan). Từ đó, hàng năm, vào ngày 14 Â Dực vận phù Quốc” và truy tặng “Tuấn Lương Đại Vương”.

Trong làng, hàng năm có lễ hội trong tết Nguyên đán, tết cổ truyền 12 tháng G iêng), hội huý kỵ 14 – 2 của ngài Nguyễn Hữu Huân, hội 15 tháng 3 và tháng 5, ngày tết Vu lan 15 tháng 7 và hội ăn cơm mới thường vào tháng 9 hàng năm.

Xưa kia, đ ền thờ Nguyễn Hữu Huân được xây dựng khá đẹp và khang trang gồm: một hậu cung, 2 giải vũ. Trước 2 giải vũ là bể cảnh có hòn non bộ, tiền đường 5 gian, sân đền, bình phong và một cổng đền (gọi là Nghinh môn). Đền được xây dựng ở một khu dân cư sầm uất, gắn liền với dòng họ Nguyễn Hữu, nơi quê hương bản quán của ngài. Song , nơi đây là vùng đất cận kề biển cả. Đền lại không được bảo dưỡng thường xuyên, ảnh hưởng của chiến tranh , đặc biệt là sự xâm hại của bão gió, đền bị hư hại nhiều.

(Xã Quảng Ngọc)

Về vị thần hoàng được thờ ở đình, hiện nay không còn tài liệu nào cho biết một cách cụ thể, nhân dân trong làng nói đến rất nhiều vị thần được thờ ở Đình nhưng cũng chưa được xác minh một cách chính xác.

Hơn ba trăm năm đã trôi qua, tường đình làng Bất Động đó rêu phong tầng tầng lớp lớp, gỗ bị mối mọt hư hỏng dần. Nhưng những chữ Nho khắc vào cột đá của cổ nhân vẫn cứ ngời sáng ánh hào quang soi cho hậu thế từ đời này sang đời khác. Trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, đình làng Bất Động đã lưu lại nhiều sự kiện lịch sử cách mạng và kháng chiến, tiêu biểu là ” công binh xưởng ” chế tạo vũ khí đánh giặc, là nơi làm kho chứa hàng trăm tấn lương thực để nuôi quân đánh giặc. Khi bộ đội về làng, Đình là nơi đóng quân tập luyện, rèn cán, chỉnh quân, là trụ sở của Ủy ban hành chính kháng chiến của địa phương, là nơi học tập của lớp học bình dân học vụ, đình còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử của địa phương.

Làng Bất Động xưa kia tổ chức nhiều nghi lễ cúng tế ở đình làng, các Nghè thờ thần và Chùa thờ bà Tiểu Kính: lễ chạp đình, lễ chạp nghè, chạp chùa cùng vào ngày 30 tháng chạp âm lịch. Trong ngày hội đình, lễ rước các sắc vua phong từ đình về nghè cùng với cỗ bàn đề thờ cúng trong 3 ngày tết Nguyên Đán được diễn ra tấp nập với tiếng chiêng, tiếng mõ, tấp nập tưng bừng.

Đình làng Bất Động là một di tích lịch sử lâu đời, được nhân dân trùng tu sửa chữa nhiều lần, nên kiến trúc của ngôi đình không còn được như xưa, nhưng dấu ấn về một ngôi Đình cổ vẫn luôn sống mãi trong tâm khảm và ký ức của nhân dân.

ĐỀN PHÚC VÀ BIA TÂY SƠN

(Xã Quảng Nham)

Di tích tọa lạc trên địa phận làng Cự Nham, xã Quảng Nham, làng Cự Nham là tên chữ, nhân dân còn gọi là làng Mom là tên Nôm. Từ xưa Cự Nham là vùng ven biển, bên cửa sông Ghép, ngoài người gốc là cư dân bản địa, còn nhiều dòng họ như Trần, Cầu từ xa chuyển đến từ thế kỷ thứ V- VI, ngoài ra còn có nhiều người gốc từ Quảng Bình chuyển ra làm nghề đánh cá.

Trong cuộc Nam chinh vào khoảng năm Canh Tuất niên hiệu Thần Vũ thứ 2(1070), Nhà vua đã ghé vào lạch Ghép(), nhà Vua lên bờ nghỉ mát dưới rừng cây cổ thụ, thấy phong cảnh sơn thủy hữu tình, hỏi ra mới biết là làng và rừng cây chưa có tên, mà dân cư ở đây người nào cũng cường tráng mặn mòi, giọng nói oang oang, dáng người chất phát thuận hòa, sống nơi đầu sóng ngọn gió. Nhà vua nghỉ đến chữ “Cự”, dưới chân toàn đá (Thạch), trên đầu là núi (Sơn) hai chữ ghép lại thành Nham và tên Cự Nham là tên chữ có từ đấy.

Chùa Đồng được xây dựng to lớn bên cửa biển, hàng năm các đời Vua Lý đều xa giá về chùa Đồng nghỉ mát và tụng kinh niệm Phật. Trong chùa có Tam bảo Phật và các vị la hán là 36 pho tượng được đúc toàn bằng đồng nên gọi là chùa Đồng.

Lạch Ghép sát chân dãy núi Ghép, từ thời tiền Lê đã đào một con sông chạy từ sông Mã cắt qua huyện chảy vào lạch Ghép (sông nhà Lê) năm tháng qua đi Lạch Ghép chuyển dần về phía Nam, phía Nam dãy núi Ghép hình thành lên mỏm cát lớn hình tựa quả bầu dài

Làng Mom hình tựa quả bầu

Đền trên, đình dưới sông sâu trước làng

Đôi câu đối nhà thờ trung đường đền Phúc ghi:

“Hương hỏa ức niên âm tích Tống

Phong ba nhất trận mặc phù Trần”

Hương khói muôn năm nhớ âm hồn người Tống

Bão tố một trận ngầm phù hộ nhà Trần

Vào năm 1285, giặc Nguyên – Mông xâm lược nước ta lần thứ hai, vua Trần giao cho Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật thống lĩnh thủy quân và chọn Biện Sơn, Lạch Bạng, Lạch Mom (Ghép) là nơi tập trận và hội quân thủy bộ. Khi giặc ồ ạt tràn vào nước ta, vua Trần cùng thủy thủ đoàn bí mật xuôi thuyền vào Nam đánh chặn Toa Đô đến lạch Mom (Ghép) hết gió đông, gió nam thổi mạnh, vua Trần lên bờ hội quân thủy bộ, vua cùng quần thần vào đền Mom dâng hương cầu khấn. Thần nhân ứng nghiệm đã có gió đông, vua Trần cùng đoàn thủy binh Đại Việt đánh quân thủy Toa Đô một trận đại bại, riêng Toa Đô kéo tàn binh chạy ra lạch Mom (Ghép) bị đạo quân của Đại Toát Lê Mạnh mật phục đánh trả, Toa Đô bị thất bại.

Giang sơn thu về một mối, vua Trần giữ lời hứa đã cấp sắc xây dựng đền Mom to lớn nguy nga, tự tay tặng các Hoành phi câu đối.

Đôi câu đối nhà tiền đường ghi:

“Xã tắc phát phu bất ư Mông Cổ đồng thiên địa

Xuân thu trữ đậu trường giữ ly thiêng vạn cổ kim”

Quanh năm cúng giỗ giữ niềm tin trong trời đất muôn đời.

Các làng bên cửa Lạch dọc ven biển Thanh Hóa, Nghệ An đến nay rất nhiều đền miếu phụng thờ (Tứ vị Thánh Nương). Riêng Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật khi cầm quân đã đóng bản doanh tại làng Mom, sau này Nhà vua cắt đất phong cho vùng Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Chiêu Văn Vương đã đưa tôn thất và gia binh về đặt bản doanh tại chân núi Văn Trinh (Quảng Hợp). Một bộ phận thủy binh thạo nghề sông biển chài lưới của tôn thất họ Trần đã kéo về làng Mom khai cơ lập nghiệp. Đến nay còn truyền lại tế lễ cung đình thời Trần và đánh cờ người.

Cuối thời Trần, vua Trần sai thượng tướng Trần Khát Chân chặn đánh giặc Chiêm Thành là Chế Bồng Nga ở lạch Ghép (Mom), đến nay ở làng Mom còn đền Trần Nhật Duật và Trần Khát Chân (Đức Thánh Lưỡng) thờ ở đền Ông.

(Phúc từ bi Ký).

Đền Mom – Đền Phúc

Đền Mom được xây dựng thời Trần, đến thời Nguyễn được trùng tu tôn tạo – với kiến trúc hình chữ Đinh. Ngôi đền đẹp lộng lẫy. Phần nội thất thì thực sự phong phú về khối lượng và màu sắc cổ truyền, khu đền là một rừng cây cổ thụ hỗn giao của nhiều loài cây khép tán nhiều tầng và một khu rừng đền sinh thái hiếm có của vùng đất bên cửa sông trên đất Thanh Hóa. Trong rừng đa phần là Lim, Gội, Thị, Bời Vời, Các, Sung … Có nhiều cây to đến 2 đến 3 người ôm. Đặc biệt có cây đa Gác Chằng to tới 4-5 người ôm. Cây Đa này năm 1945 đã vinh dự treo cờ búa liềm ngày cách mạng về. Năm 1964, với quyết định trị thủy đào lạch qua đền toàn thể 11 di tích cùng khu rừng sinh thái đã có tới nghìn tuổi chỉ còn trong hoài niệm, phần còn lại đến cuộc chiến tranh chống Mỹ, ngoài pháo kích vào, trên trời máy bay Mỹ vào ra đều không quên dội bom, những nơi nào có cây cao bóng cả.

Đền Ông, đền thờ Đức Thánh Lưỡng, bên hữu đền Phúc thờ (Trần Nhật Duật và Trần Khát Chân). Tọa lạc bên bờ sông, ngoảnh mặt hướng Nam, đền được xây dựng cuối thời Trần, kết cấu kiểu tiền nhất hậu đinh nhưng nhỏ hơn đền Phúc. Nhà tiền đường có 2 ông giữ cửa, bên hai vì kèo hồi có chồng rường bảy kẻ, các kẻ được chạm khắc hoa văn tứ linh, bốn vì kẻ truyền được chạm các vật linh, lá hoa, toàn bộ ngôi đền là một tuyệt tác về nghệ thuật chạm gỗ thời Trần.

Đình: đình thờ Quang Trung – Nguyễn Huệ

(Thời vua Quang Toản xây dựng) Đình tọa lạc bên tả bờ sông, đền Phúc ngoảnh mặt hướng Nam. Đình 5 gian, gian đầu lớn nhất đặt hương án thờ, 4 gian còn lại trống để hội họp, hát trống Quân Tây Sơn, hát giao duyên cửa đình. Đến thời Nguyễn Ánh Gia Long thì Đình bị triệt phá gian nhà thờ, truy tìm đập vỡ bia đá và sắc phong, riêng còn một bia đá được các cụ xóa một số chữ đem về cất dấu nên đến nay vẫn còn.

Văn bia cổ bằng đá 2 mặt được ghi bằng văn tự và chữ Hán trên trán bia chạm hổ phù ngậm chữ Triện thọ. Bia có tên (Phúc từ bi ký), mặt sau từ trái sang hàng thứ 3 có dòng chữ: Hoàng triều Quang Trung ức vạn niên chi tam tuế, tại canh tuất du nguyệt cốc thời. Đông Lĩnh, Ngọc Đồng cư sỹ Đốc học Hàn lâm viện Thanh Khê Bá La Đức Ứng tái bái soạn Tức (giờ tốt tháng Canh Tuất niên hiệu Quang Trung thứ 3 (1780). Người soạn: La Đức Ứng, tước Thanh Khê bá, chức Đốc Học, Hàn Lâm Viện, hiệu là Ngọc Đồng Cư Sĩ người Đông Lĩnh (Theo gia phả họ La thì ông là con cháu họ La, nay ở xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn). Toàn bộ nội dung văn bia ghi lại chứng tích một thời về vùng đất kẻ Mom.

Lễ hội ngày nay.

Trải qua các cuộc chiến tranh, đất nước hòa bình quê hương đổi mới, người dân kẻ Mom, Quảng Nham ngày nay cùng bắt nhịp và hòa mình vào dòng chảy Văn hóa tiến bộ cùng đất nước.

Đền phúc và quần thể di tích xưa không còn như cũ nhưng nền đất cũ vẫn hiện diện. Nhân dân Quảng Nham đoàn kết cùng bắt tay xây dựng lại đền, dù không nguy nga như cũ, nhưng đền phúc mới cũng đủ nơi hương khói phụng thờ. Tấm bia đá Tây Sơn bao năm bị lấp vùi, nhờ sự giữ gìn của nhân dân mà vẫn còn lưu giữ cho tới ngày nay.

Ngày 17 tháng 1 năm 2003, toàn khu di tích danh thắng đã được Giám đốc sở Văn hóa – Thông tin Tỉnh Thanh Hóa ký Quyết định số 47/QĐ – VHTT cấp bằng công nhận di tích lịch sử đền Phúc và bia Tây Sơn là di tích lịch sử cấp Tỉnh. Mỗi năm tết đến xuân về, toàn dân trong xã ngoài làng khách du từ tứ phương nô nức trảy về đền Phúc Quảng Nham vui hội, vui xuân dân hương, cầu phúc, cầu tài, cầu vạn sự hành thông, thành đạt.

– Tế lễ: Tế bốn chầu đại đình bằng 4 cỗ lớn vào các ngày 18 tháng Chạp và mùng 6-7-8 tết.

– Lễ tế nữ Quan cờ Người vào ngày mùng 2 tết.

– Lễ Dân Mã và chèo bơi ngày 5 tết.

– Lễ cầu ngư ngày 12 tết.

– Lễ cầu siêu các anh hùng liệt sỹ tối 15 (Rằm tháng Giêng).

– Hội đánh cờ người ngày mùng 2 và ngày mùng 5 tết.

– Hội múa võ Tây Sơn ngày mùng 5 tết.

– Hội nấu cơm thi ngày mùng 6 tết.

– Hội hát trống quân Tây Sơn và hát giao duyên cửa đình ngày mùng 7 tết.

Đặc sắc và cổ truyền nhất là tế nữ quan đánh ván cờ người đầu xuân ngày mùng 2 tết, 32 Quân cờ bằng người thật được tuyển trong dân từ đầu năm, gái trai thanh tân tuổi từ 15-18. Tế nữ quan lung linh như thần tiên dáng thế, đánh cờ người quân tướng chuyển động như phượng múa rồng chầu, mãn nhãn khách du khi được xem tế Nữ quan đánh cờ người tại đền phúc.

Thành kính trên đền tế nữ quan đánh cờ người, rộn rã dưới sông tiếng hò reo bơi trãi, 4 đội thuyền rồng xanh đỏ tím vàng, mỗi đội 20 tay bơi, trên bờ hàng vạn người, đủ giọng nói vùng miền, đủ sắc màu áo khăn hò reo vang dậy, khách du lịch về dự hội chắc rằng xem trên đền sẽ tiếc hội dưới sông.

Lễ hội diễn ra với 3 màn múa võ Tây Sơn, 3 màn nấu cơm thi, thành thật mà nói rằng độc nhất cõi dân ta, võ Tây Sơn mà còn lưu truyền lại đất kẻ Mom nay được phục hồi không kém phần hấp dẫn; màn 1 đánh trận Hạ Hồi, màn 2 đánh trận Ngọc Hồi, màn 3 đánh trận Đống Đa, 3 màn võ sôi động từ đầu, người xem kín khắp sân vận động, hồi hộp dõi theo, thở phào reo vui, như chưa bao giờ được xem võ thuật cổ truyền hay đến thế.

Mười lũ cũng trảy kẻ Mom Đâu hơn hội mở tết xuân Dưới sân chèo trãi, Đền sân cờ người

Từ Thành phố Thanh Hóa, theo Quốc lộ 1A vào Namra đến đầu núi Chẹt (Ghép) rẽ trái theo đường nhựa về đền Phúc xã Quảng Nham.

ĐỀN THỜ TƯỚNG QUÂN LÊ ĐĂNG TIỆM

(Xã Quảng Nhân)

Làng Phong Hậu xưa là một vùng đồng chiêm trũng, quanh năm ngập nước, dân cư thưa thớt, người dân chỉ sống dựa vào một vụ lúa nước trong năm. Dưới triều Lê Cảnh Hưng, cụ Lê Thiên Hậu là người gốc Hà Nội được nhà vua điều về vùng đất này để khai cơ lập ấp, xây dựng làng, đặt tên là làng Phong Hậu, nay là thôn 4 xã Quảng Nhân, huyện Quảng Xương. Cũng như bao làng quê khác, trước đây làng Phong Hậu, xã Quảng Nhân cũng có đình, có nghè thờ tự, tế lễ nhưng người đã có công khai cơ lập ấp, đánh giặc giữ nước. Trải qua bao biến đổi thăng trầm của lịch sử, cùng với những năm tháng chiến tranh chống giặc ngoại xâm, đất nước còn nhiều khó khăn, con em thiếu trường lớp học tập, đình, nghè làng Phong Hậu bị tháo dỡ để xây dựng trường học và công sở xã, duy chỉ còn lại ba sắc phong, được ông Lê Văn Vũ là hậu duệ của Lê Thiên Hậu còn lưu giữ.

Theo các cụ cao niên kể lại, tướng quân Lê Đăng Tiệm là cháu của ngài khởi tổ Lê Thiên Hậu, sinh ra và lớn lên tại mảnh đất làng Phong Hậu, nay là thôn 4 xã Quảng Nhân. Hơn 100 năm chống phong kiến và giặc ngoại xâm, tướng quân Lê Đăng Tiệm đã tham gia nhiều cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi. Đến năm 1783, dưới triều Lê Cảnh Hưng, Lê Đăng Tiệm được cử cầm quân chống giặc ngoại xâm. Do có nhiều công lao to lớn với dân với nước, tướng quân Lê Đăng Tiệm được Nhà vua phong 3 đạo sắc:

– Đạo sắc 1 phong ngày 4 tháng 9 năm Mậu Tuất (1778) được dịch ra như sau: Thanh Hóa tỉnh, Quảng Xương huyện, Vạn Linh xã, Lê Đăng Tiệm vì dỹ thắng tô đội diễu binh đội trưởng, ban thân Tù Thượng tướng Quốc bảo quan hoa công đại tướng quân đoan là quận công tiến chinh thuận quảng đạo lĩnh hiệu vi đạo dỹ kinh, chỉ duy ứng bách bộ chức khổ vi thần lực tướng quân hiệu lệnh ty tráng sĩ bách bộ ba thu cố sắc. Cảnh Hưng tam thập cửu niên, cửu nguyệt tứ nhật (Cảnh Hưng năm thứ 39, tháng 9, ngày mùng bốn).

– Đạo sắc 2 phong ngày 26 tháng Giêng năm Nhâm Dần (1782) được dịch ra như sau: Quảng Xương huyện, Vạn Linh xã, phó thiên hộ Lê Đăng Tiệm vì dỹ Nhâm Dần niên, phụng tự vương tiến phong dỹ vị duy cặp chư quân dực đói công những do thắng đội diểu binh nhất tam suy đối tại khô tương lọc dỹ kinh chí duy lọc thức nhất thứ tái khâm thưởng nhất thứ ứng thiên hộ thức khả vi trung tướng quân hiệu lệnh ty ky bái tráng sĩ vân kỳ uý thiên hộ trung tuyển cố sắc Cảnh Hưng tứ thập tứ niên nhất nguyệt nhị lục nhật (Cảnh Hưng năm thứ 44, tháng Giêng, ngày 26).

– Đạo sắc 3 phong ngày 26 tháng 2 năm Quý Mão 1783 được dịch ra như sau: Quảng Xương huyện, Vạn Linh xã, bách hộ vì phụng tự vương sơ chính duy tập chư quân dực đối công nhẫy do thắng tô đội diểu binh nhất tâm suy đối tai khô tương lọc dỹ kinh chỉ huy lục chức nhất thứ ứng phó thiên hộ chức khô vi tráng tiết tướng quân hiệu lệnh ty say kim tráng sĩ nhất ky ứng phó thiên hộ truy liệt cố sắc.

Theo bút tích ghi lại, tướng quân Lê Đăng Tiệm mất ngày 15 tháng 1 năm 1784 (năm Giáp Thìn). Căn cứ vào bản dịch các sắc phong, tướng quân Lê Đăng Tiệm là người có công lao to lớn trong việc đánh thắng giặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi. Để tỏ lòng thành kính những bậc anh minh, con em dòng tộc họ Lê và nhân dân thôn 4 xã Quảng Nhân đã đóng góp tiền của xây dựng lại ngôi đền trên nền đất cũ với diện tích 2.250m² nằm ngay giữa làng. Đền được xây dựng gồm 1 chính tẩm thờ tượng tướng quân, 1 tiền đường, tất cả đều lợp ngói, phía trước đền là sân, xung quanh xây tường rào. Hiện nay trong đền còn lưu giữ một số di vật cổ như ngai, bát hương, bài vị, bảng đọc chúc văn, kiệu, hòm đựngsắc, tắc tải, thanh kiếm, tất cả đều chưa rõ niên đại. Tự hào về dòng tộc họ Lê mà nhân vật chính là tướng quân Lê Đăng Tiệm, các thế hệ con cháu họ Lê thôn 4 xã Quảng Nhân ngày nay luôn ý thức trước linh vị tổ tiên, ” tiên linh ta cần kiệm gây cơ nghiệp, trung hậu giữ gia phong qua biển dâu dầm mưa dãi gió vững tay chèo lái vượt thác ghềnh, đời càng vững cây bền gốc, ngày thêm thắm lá tươi cành, con cháu ngày càng tiến bộ, tổ tiên muôn thuở hiển vinh”. Hằng năm vào ngày 15 tháng Giêng, con cháu dòng tộc họ Lê và nhân dân thôn 4 hội tụ về đền tổ chức lễ giỗ tướng quân Lê Đăng Tiệm trong không khí thành kính, trang trọng.

Đền thờ Lê Đăng Tiệm và dòng họ Lê thôn 4 xã Quảng Nhân được Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định số 126/QĐ – VHTT công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh ngày 2 tháng 8 năm 1991. Đây không chỉ là niềm tự hào của con cháu dòng tộc họ Lê, mà là còn là niềm tự hào của nhân dân xã Quảng Nhân. Vì vậy, ngôi đền rất cần được sự quan tâm giúp đỡ của các cấp, các ngành, các tầng lớp xã hội để xây dựng khang trang hơn, xứng đáng với di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

(Xã Quảng Phúc)

Kẻ Dải – Ngọc Đới ở nơi đầu sóng ngọn gió, mười năm mất chín năm lụt lội, bão giông , nhưng bãi sác , dòng sông vẫn có sức hấp dẫn mạnh đối với con người. Họ là dân tứ chiếng chạy loạn, chạy đói, chạy giặc… đến nơi góc bãi, cuối sông này thì dừng chân tìm bến buông neo kiếm sống. Họ mang theo tr ên lưng cái khổ ải của người dân phiêu bạt, không quên mang theo niềm tự hào tổ tiên thơm ngát khói hương bên cạnh nghè Thành Hoàng con cháu họ Trịnh lánh nạn Tây Sơn, con cháu họ Lê tránh Nhà Nguyễn vào đây an cư lạc nghiệp đến ngày nay.

Đến thời Lê Trung h ưng quân Mạc cướp phá Thanh Hóa, tướng Mạc Ngọc Liễn cậy mạnh đem hùng binh tiến vào của biển Ngọc Ghép ngư ợc dòng sông Yên để đánh các huyện Ngọc Sơn – Nông Cống. Các tướng nhà Lê: Trịnh Văn Hải, Ngô Cảnh Hựu, Ngọc Liễn Quận công đặt phục binh đón đ ợi quân Mạc ở Kẻ D ải . Trịnh Văn Hải đêm nằm mơ thấy một vị thần thấp lùn như cực kỳ to lớn bảo: “, Văn Hải hỏi: “tìm hỏi xung quanh đây có vị thần nào thiêng nhất? Dân làng đáp: “”. Trịnh Văn Hải gật đầu chứ không nói gì, sắm lễ l ên cầu nguyện Thạch Linh Thần rồi Ông bí mật chia thủy binh ra từng toán Ngày mai giặc tất chết ngay ở nhỏ nấp sẵn trong rừng làm thế nào để thắng giặc“, Thần đáp: ” Đoản kiếm trảm trường xà” (Gươm ngắn chém rắn dài). Sáng dậy Văn Hải lác và bụi cây hai bên bờ sông , trưa hôm sau đoàn thuyền Mạc Ngọc Liễn đến khúc sông thắt cổ bầu th chỉ có vị Thạch linh thần tướng đời nhà Lý từng giúp vua Lý đánh giặc Ch ử dừng lại tìm cách vượt qua vì nước cạn, thủy binh Mạc đang nhích lên từng bước , bỗng hai bên bờ sông gươm giáo ầm ầm, lẫm tiếng reo hò vang dậy, quân Lê đổ ra đông nghịt. Đoàn thuyền Mạc trải dài trên khúc sông cong như con rắn lượn bị quân Lê chặn đầu, khóa đuôi, băm chặt từng khúc, Mạc Ngọc Liễn đi sau may thoát nạn. Khi vua Lê trở về kinh thành Thăng Long các vị thần trong nước có công giúp nhà Lê đều được phong tặng Thạch Linh thần tướng, được tiến phong làm Thạch Trụ Đại Vương với bốn chữ “Bảo quốc hộ dân ” rồi thêm mấy chữ “Dực Bảo Trung Hưng tôn thần” .

Năm 1887 , hưởng ứng chiếu Cần Vương chống Pháp của vua Hàm Nghi, đô đốc Nguyễn Ngọc Lưỡng khởi binh ở núi Hòa Trường, ông đón đánh giặc tại bến đò sông Ghép bị thất bại phải rút về núi Hòa Trường cố thủ, ông Trịnh Định Chính là tham mưu nghĩa quân , người làng Ngọc Đới đêm mộng thấy Thạch Trụ Đại Vương đứng ở cây đa thờ chỉ tay về hướng Tây Nam, ông tỉnh dậy bàn với đô đốc Nguyễn Lưỡng “ đi, chi bằng liệu kế trước ” rồi tham mưu Trịnh, đô đốc Nguyễn họp quân tại gốc đa thờ khấn Thạch Trụ Đại Vương, thề đánh tan giặc T ây, sau đó đưa quân vượt sông sang địa phận huyện Nông Cống tiến về phía Tây Nam hợp binh với đô đốc Nguyễn Phương ở căn cứ địa Ổn Lâm để tính kế lâu dài. Quân ta đóng ở đây có núi, có sông, nhưng núi không cao, sông không hiểm, giặc kéo đ

MỘ VÀ ĐỀN THÁI TỂ BÙI SỸ LÂM

(Xã Quảng Tân)

Làng Đắc Thọ x­ưa thuộc xã Lư­u Vệ, huyện Quảng X­ương, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Theo gia phả họ Bùi Sỹ để lại thì làng này có từ thế kỷ thế thứ XIII – vào thời nhà Trần, gồm các làng: Làng Phú Đa, làngTrung thôn (Đắc Thọ ngày nay), làng Nhân Hậu (làng Dục Tú ngày nay), thuộc đất L­ưu Vệ cũ, nay đều thuộc xã Quảng Tân, huyện Quảng Xư­ơng, tỉnh Thanh Hóa.

Lớp cư­ dân đầu tiên của dòng họ Bùi Sỹ đến mảnh đất L­ưu Vệ sinh sống vào khoảng năm 1430 trở về sau. Ngày nay làng Đắc Thọ gồm các thôn: Tân Đắc, Tân Thượng (Tân Th­ượng 1 thuộc Quảng Tân, Tân Th­ượng 2 thuộc Thị trấn Quảng X­ương).

Căn cứ vào văn bia, phủ thờ Thái tể Bùi Sỹ Lâm đư­ợc vua Lê – Chúa Trịnh ban cấp cho tiến hành xây dựng vào năm Vĩnh Tộ thứ 10 Quý Mùi (1643) trư­ớc khi ông mất 15 năm. Ngày 8 tháng 3 năm MậuThìn (1628), năm thứ 10 Vĩnh Tộ. Sau khi ông mất Nhà vua cho tổ chức tang lễ theo nghi thức quốc gia. Phần mộ còn ở phía sau nhà thờ gần hậu cung, phủ thờ tọa lạc trên một vùng đất cao, tọa Bắc nhìn về h­ướng Nam nơi có con đ­ường Tân Trạch chạy qua, xung quanh là đồng lúa xanh rờn, cây cối quanh năm t­ươi tốt. Phía Đông là con sông nhỏ chảy từ đập Bái Th­ượng chảy về. Xung quanh là hàng rào có sân rộng lát gạch đỏ, có nghi môn gồm một cổng chính và 2 cổng phụ.

Thái tể Bùi Sỹ Lâm sinh năm Tân Tỵ (1551), mất năm Mậu Thìn(1643) khi đang còn tại chức, h­ưởng thọ 92 tuổi. Ông sinh ra tại xã Lư­u Vệ, huyện Quảng X­ương, phủ Tĩnh Gia, Tỉnh Thanh Hoa (Thanh Hóa ngày nay). Lúc còn nhỏ đ­ược cha mẹ cho đi học văn, luyện võ, học binh pháp, vốn là người tinh thông từ văn ch­ương chữ nghĩa đến cung kiếm, có tài thiên bẩm về quân sự, tính tình của ông quảng bá, độ l­ượng nên được bạn bè mến mộ. Sau khi thi đỗ tam trường ông chuyển hẳn theo nghiệp binh.

Trong công cuộc trung hưng nhà Lê, có sức đóng góp chung của các tầng lớp nhân dân, trong đó, có công đóng góp của Bùi Sỹ Lâm. Ông là một công thần có công với đất nước, văn võ song toàn, và là nhà chính trị quân sự vào thế kỷ XVII. Những hoạt động của ông đã để lại những dấu ấn trong lịch sử, có ý nghĩa quốc gia. Do những đóng góp to lớn ông đã đ­ược triều Lê Trung hưng giữ lại làm việc cho đến phút chót cuộc đời và đ­ược triều đình phong tặng nhiều chức vụ quan trọng:

– Chức nội giám, Tổng thái giám kiêm các giám ty.

– Trung quân đô đốc phủ, th­ượng t­ướng quân, th­ượng trụ quốc.

– Nhạc quận công; Tả t­ư mã, thiếu bảo, thái bảo, thiếu úy.

– Tự khiêm cung, Thái tể, thụy Quảng Thành t­ướng công;

– Gia phong thái phó, gia phong Thành Hoàng đại vư­ơng.

Mộ và đền thờ ông Bùi Sỹ Lâm: mộ và đền đ­ược xây dựng ở giáp giới giữa hai xã Quảng Tân và xã Quảng Trạch, cách Thành phố Thanh Hóa 8km về phía Nam. Là Đền nh­ưng nhân dân quen gọi là Phủ thờ (vì khi đ­ương chức Ngài đ­ược vua Lê – Chúa Trịnh cho lập phủ riêng). Phủ thờ đ­ược bố trí theo kiểu nội công ngoại quốc, hậu cung có đặt bài vị, t­ượng bằng gỗ theo chân dung Bùi Sỹ Lâm. Phía ngoài là tiền đ­ường có đôi hạc cao hơn đầu ng­ười chầu hai bên, có đôi ngựa gỗ giống như­ ngựa thật. Trải qua năm tháng chiến tranh, sự tàn phá của thiên nhiên, thăng trầm của lịch sử và thời gian, đến năm 1961 phủ thờ chỉ còn lại là một khu đất trống, còn lại tấm bia đá có niên đại 1628. Trư­ớc kia phủ thờ làm bằng gỗ lim nhà ngói 5 gian, hậu cung bài trí rất đẹp, có các linh vật thờ cúng theo nghi lễ thời Lê Trung hưng. Do thiên tai tàn phá và do biến động thời gian đến năm 1961 chỉ còn lại một khoảng đất trống, còn lại ngôi mộ, tấm bia đá bị nằm nghiêng và một số linh kỷ vật khác.

Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đời sống của bà con trong dòng họ được cải thiện dần lên. Bà con trong họ tìm mọi cách s­ưu tầm tài liệu về thân thế sự nghiệp Thái tể Bùi Sỹ Lâm, họ Bùi Sỹ còn l­ưu giữ tại nhà tr­ưởng họ và các nhà thờ chi một phần gia phả họ Bùi Sỹ bằng chữ Hán, các sắc phong thời Lê Cảnh Hư­ng, Tự Đức, Khải Định, Thành Thái, Duy Tân… và một bản: “Lịch sử họ Bùi Sỹ xã Lư­u vệ, huyện Quảng X­ương, tỉnh Thanh Hóa” từ năm 1952 còn l­ưu lại cho đến ngày nay. Cả dòng họ Bùi đã phát động phong trào đóng góp công sức, tiền của, xây dựng phủ thờ để di tích khang trang hơn.

Tháng Giêng năm 1994, tạo dựng nhà bia, bia đ­ược chế tác từ loại đá quý thành một phiến đá nguyên, có kích th­ước cao 1m85 rộng 1m20, dày 0,50m, chạy suốt 3 cạnh bia là đ­ường diềm hoa cúc dây chóp, bia chạm hình 2 con rồng chầu nguyệt, cả 2 mặt bia đều khắc chữ Hán.

Tháng 10 năm 1995, tôn tạo chính tẩm, xây t­ường rào, xin lại khu đất tọa lạc Phủ thờ gần 4.000m 2.

Tháng 2 năm 1997, tôn tạo tiền đ­ường gồm 1 nhà gỗ lim 5 gian, 4 vì kèo, còn lại gạch tường, tất cả các vì kèo kiến trúc theo kiểu trồng r­ường bẩy kẻ, chạm trổ hoa lá, rồng phượng … tiền đ­ường và hậu cung lợp ngói mũi, cánh cửa theo kiểu nhà thờ thời Lê Trung h­ưng.

Tháng 12 năm 1998: tôn tạo nghi môn (cửa chính), hoàn tất căn bản các việc mua sắm, s­ưu tầm nhà thờ và các linh kỷ vật khác, lát lại sân.

Năm 2008, xây 2 cổng phụ nghi môn.

Từ Hậu cung ra ngoài tiền đ­ường có Ngai thờ, t­ượng thờ Thái tể ở tư­ thế ngồi đ­ược đặt trên một bệ lớn; đài lớn, đài nhỏ, cây nến lớn, lư­ h­ương, hòm sắc phong. Giữa hậu cung và tiền đ­ường là 2 ông phỗng đá; hòm sắc phong gồm 8 sắc phong; 1 bộ chấp kích gồm 8 loại binh khí bằng gỗ giống như­ thật đ­ược đặt trên giá lớn. Ngoài tiền đư­ờng có đại tự “Bảo Quốc hộ dân”ở chính giữa, hạc gỗ cao hơn đầu ng­ười, đôi ngựa gỗ cao to bằng ngựa thật, h­ương án, bàn thờ lớn, bàn thờ nhỏ, câu đối, bộ tranh tứ quí, trống cái, trống nhỡ, kiệu lớn, đôi độc bình gốm sứ Bát Tràng giả cổ “Tùng Chùa” cao 2,1m – rộng 0,65m và chum sứ Bát Tràng giả cổ.

Đức Thái tể Bùi Sỹ Lâm là một nhà chính trị quân sự ở nửa đầu thế kỷ thứ XVII, những hoạt động của ông có ý nghĩa trong phạm vi quốc gia. Những bia ký, phủ thờ trên quê h­ương Bùi Sỹ Lâm còn là tấm g­ương sáng về sự rèn luyện tu thân, chí công vô tư­, được các triều đại nhà nư­ớc phong kiến Việt Nam từ thời Lê Trung hư­ng đến nhà Nguyễn, và đến nay nhân dân đều rất ngư­ỡng mộ. Do đó đây là khu di tích lịch sử l­ưu niệm danh nhân. Khẳng định công lao to lớn của ông Bùi Sỹ Lâm đối với đất nư­ớc và không gian văn hóa đã có đ­ược, ngày 04/05/1995 mộ và đền Bùi Sỹ Lâm xã Quảng Tân đ­ược công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh. Bộ trưởng bộ Văn hóa Thông tin đã ký Quyết định số 02/QĐ – BVHTT ngày 26 tháng 1 năm 1999 cấp bằng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia Mộ và đền Bùi Sỹ Lâm. Để vinh danh tên tuổi và sự nghiệp của ông, năm 2009 HĐND, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ra quyết định đặt tên một con đ­ường ở thành phố Thanh Hóa mang tên Đư­ờng Bùi Sỹ Lâm.

ĐỀN THỜ VÀ BIA MỘ QUẬN CÔNG LÊ BÙI VỊ

(Xã Quảng Tân)

Ở xã Lưu Vệ, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia trước đây, nay là xã Quảng Tân, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, còn lưu giữ được ngôi đền thờ, bia mộ Quận công Lê Bùi Vị (tức Lê Bá Trí) – người có công trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quốc gia phong kiến độc lập tự chủ thời Lê Trung hưng.

Lê Bùi Vị (hay Lê Bá Trí) – người làng Nhân Hậu, xã Lưu Vệ, tổng Lưu Vệ, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, nay là làng Dục Tú, xã Quảng Tân, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh ngày 27 tháng 10 năm Quý Dậu, niên hiệu Chính Hòa thứ 14 (1693), đời vua Lê Hy Tông (1676 – 1705 ). Ông là con thứ hai của đức khởi tổ dòng họ Lê Bá là Lê Bá Trực và mẹ là Bùi Thị Nghiêm. Để nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của người mẹ, ông đã thay chữ Bá thành chữ Bùi (tên họ của mẹ), nên gọi là Lê Bùi Vị.

Vào niên hiệu Bảo Thái thứ 3 (1722), đời vua Lê Dụ Tông (1705 – 1729), Lê Bùi Vị được tuyển vào làm quan Thái giám với chức Thị nội giám. Năm Bảo Thái thứ 6 (1725), Lê Bùi Vị thi cử võ, được phong làm Võ tướng kiêm các chức Đô đốc phủ, Đô đốc Đồng tri, Đô đốc Thiêm sự, kiêm chức Ty lễ giám, Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân. Năm Bảo Thái thứ 10 (1729), Ông được vinh phong Tả Đô đốc.

Năm 1740, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 6, đời vua Lê Ý Tông (1735 – 1740), Ông được phong thêm chức Thị vệ Uyển nhị đội (chức chỉ huy đội quân bảo vệ, kiểm soát cung Vua, phủ Chúa). Trong thời gian này, chúa Trịnh Giang lộng quyền vua Lê quá nhiều, việc triều chính thì bê trễ. Trước tình trạng đó, Lê Bùi Vị đã cùng 13 vị quan lớn trong triều phế truất Trịnh Giang, đưa Trịnh Doanh lên nắm chính quyền.

Cũng trong năm 1740, Đô đốc Thái giám Lê Bùi Vị lập được hai chiến công lớn trong việc dẹp loạn. Thời kỳ này các cuộc nổi dậy khởi nghĩa của nông dân nổ ra ở nhiều nơi, chúa Trịnh Doanh thân chinh dẫn quân đi đánh dẹp các cuộc nổi dậy của Nguyễn Tuyễn, Vũ Trác Oanh ở Hải Dương, Hoàng Công Chất, Vũ Đình Dung ở Sơn Nam (Nam Hà, Thái Bình, Hưng Yên). Chúa Trịnh Doanh cùng các tướng lĩnh của mình trong đó có cụ Lê Bùi Vị chọn cuộc nổi dậy của Vũ Đình Dung làm mục tiêu tấn công trước (còn gọi là giặc Ngân già) và đã dẹp yên được cuộc nổi dậy. Cũng trong thời gian này loạn quân (quân khởi nghĩa) kéo đến Bồ Đề đánh phá, uy hiếp Thăng Long. Kinh thành Thăng Long trong thế nguy cấp, Đô đốc Lê Bùi Vị dẫn quân Thị vệ trong đêm tối đánh tan quân địch, lập công lớn.

Do có nhiều công lớn, nên trong ngày lên ngôi của vua Lê Hiển Tông, chúa Trịnh Doanh đã tấu trình lên vua Lê phong thưởng cho Lê Bùi Vị chức Đô đốc Thái giám Thượng trụ quốc Dực Quận công.

Đến năm 1761, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 22, đời vua Lê Hiển Tông (1740 – 1786), Quận công Lê Bùi Vị được Nhà vua cho về quê nghỉ dưỡng tuổi già. Những năm nghỉ hưu, ông đã dồn hết tâm sức vào việc chăm lo đến cuộc sống của dân làng, dạy bảo con cháu trong dòng tộc. Ông đã làm bản tấu lên Vua để xin phong sắc, tước cho anh em và các con nuôi; lập bản kê khai ruộng đất, tài sản của ông, chia 50 mẫu đất, tiền bạc cho anh em, con cháu trong họ (con trai từ 8 tuổi trở lên). Đối với dân làng trên xóm dưới, ông đã dành 30 mẫu đất chia cho các làng hậu kỵ thuộc xã Lưu Vệ và xã Hoàng Thanh để cày cấy. Các bản tấu và kê khai trên đều được vua Lê Hiển Tông chẩn tấu, phê duyệt. Hiện tại, dòng họ đang lưu giữ các văn bản trên.

Đền thờ Quận công Lê Bùi Vị được xây dựng năm 1777 thuộc làng Trung Thôn (tức Thượng Thọ – Đắc Thọ ngày nay).Theo lời các cụ cao niên trong làng xã cho biết: Sau khi Quận Công Lê Bùi Vị mất, dòng họ và các làng Hậu kỵ đã xây dựng đền thờ ông tại đất làng Trung Thôn với diện tích 12 sào = 6.000m 2, gọi là đền Từ Chỉ. Ngôi đền nhìn về hướng Nam. Quy mô cấu trúc ngôi đền theo kiểu: “Tiền Nhất – Hậu Đinh” (phía trước theo kiểu chữ “Nhất” (- ), phía sau kiểu chữ “Đinh” (J ), gồm có Tiền đường (5 gian), Trung đường (3 gian), Hậu cung (2 gian ) mái vòm cuốn. Ngoài ra, còn có Bái đường (sân), nghinh môn, chung quanh đền có nhiều cây cổ thụ. Các vì kèo làm bằng gỗ lim, tường nhà xây gạch, mái nhà lợp ngói mũi. Bờ nóc trang trí “Lưỡng Long chầu nhật” (Rồng chầu mặt trời). Trong đền bài trí nhiều đồ thờ như: Sắc phong, Long ngai, bài vị, bộ bát bửu, kiệu long đình, kiệu bát cống, có nhiều con giống đá như voi, ngựa, nghê… Còn có ruộng nhà đền (khoảng 1 mẫu) để thủ từ canh tác lấy sản vật cúng tế hàng năm.

Về ngôi mộ của Quận công Lê Bùi Vị, theo lời truyền lại: ngôi mộ táng theo kiểu “Thượng sàng – Hạ mộ” (trên là nhà, dưới là mộ). Vị trí ngôi mộ nằm ở nhà Hậu cung (Hậu cung đè lên 1/2 ngôi mộ).

Về sau, ngôi đền bị đốt cháy, nhiều đồ thờ như sắc phong thời Lê, kiệu bát cống, lộng, kích, kiếm thờ cũng bị thiêu trụi. Đến năm 1848,thời vua Tự Đức triều Nguyễn, xã trưởng xã Lưu Vệ có tờ tấu trình lên Nhà vua xin cấp sắc phong cho Lê Bùi Vị. Trong bản tấu nói rõ là ngôi đền bị quân Tây Sơn đốt (Tờ sắc này hiện nay vẫn còn). Dưới thời Nguyễn, đền thờ Quận công Lê Bùi Vị được xây dựng lại trên nền đất cũ. Vào những năm 1963 – 1964, ngôi đền bị phá bỏ hoàn toàn, chỉ còn lại mộ, đất đai của đền thờ chia cho các hộ dân. Năm 1995, con cháu trong dòng tộc đã chuộc lại khoảng 300m 2 đất và xây lại đền thờ Lê Bùi Vị để có quy mô như hiện nay. Ngôi đền ngoảnh mặt về hướng Tây, bố cục theo kiểu chữ “Đinh”, gồm tiền đường (3 gian) và chính tẩm (2 gian). Trong đền bài trí ban thờ Lê Bùi Vị, hai bên là ban thờ các bậc tiên liệt Chi 2. Ngoài ra, còn có ngai thờ bằng đá được chạm trổ tinh xảo, bát hương bằng đá,đại tự,câu đối, sắc phong, bia ký… Hàng năm, vào ngày mất của Quận công Lê Bùi Vị (mùng 9 tháng 8 Âm lịch), con cháu dòng họ tổ chức tế lễ trọng thể.

Đền thờ, bia mộ Quận công Lê Bùi Vị (tức Quận công Lê Bá Trí) đã được Sở Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh theo Quyết định số 69 ngày 21 tháng 9 năm 1998. Hiện nay, di tích đã được tu bổ tôn tạo khang trang.

TỪ ĐƯỜNG DÒNG HỌ LÊ THIÊN

(Xã Quảng Tân)

Từ đường dòng họ Lê Thiên ở xã Quảng Tân, huyện Quảng Xương, là nơi thờ các vị tiên hiền dòng họ Lê, trong đó có tướng quân Lê Đình Niếp – người đã có công phò tá giúp việc nhà Lê Trung hưng cuối thế kỷ XVI.

Vào thời Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê và xảy ra cuộc nội chiến Lê – Mạc, dòng họ Lê Đình (tức Lê Thiên ngày nay) có ông Lê Đình Niếp tham gia phò Lê diệt Mạc. Theo Gia phả, sắc phong và văn bia còn lại đến nay cho biết: Ông Lê Đình Niếp cùng thời với Thái tể Bùi Sỹ Lâm, và là anh em con dì, ông Niếp hơn ông Lâm 9 tuổi, hai ông cùng là võ quan trong quân đội phò Lê diệt Mạc. Trong giai đoạn 1557 – 1600, d­ưới triều Lê Anh Tông (1557 – 1573) và Lê Thế Tông (1573 – 1600), ông Lê Đình Niếp được Nhà vua sai phái theo Chúa Trịnh tiến đánh quân Mạc ra khỏi kinh thành Thăng Long, dồn ép truy kích quân Mạc xuống Hải Phòng, Hải Dư­ơng. Trong một trận đánh ở trận tuyến Kiến An – Phố Hiến – Hải Phòng, tướng quân Lê Đình Niếp bị trọng thương, rồi mất ngày 15 tháng 5 năm 1590. Nhà vua ban sắc truy tặng t­ướng quân Lê Đình Niếp tư­ớc Hầu. Các triều vua về sau đều ban sắc phong tặng.

Để ghi nhớ công lao huân nghiệp của tướng quân Lê Đình Niếp, dân chúng trong vùng cùng con cháu dòng họ Lê đã xây dựng nhà thờ và hương khói bốn mùa không dứt.

Nhà thờ họ Lê Thiên tr­ước kia đã bị hoả hoạn. Đến năm 1941, ông Lê Thiên Cam cung tiến mảnh đất diện tích 155m2 ở giữa làng làm nhà thờ, phía Bắc là đ­ường làng, phía Tây tr­ước nhà có ao, phía Đông và Nam là dân cư. Qui mô kiến trúc nhà thờ không lớn lắm, nghệ thuật kiến trúc điêu khắc không có gì đặc biệt. Số lượng hiện vật bài trí trong nhà thờ không nhiều.

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, nhất là trong thời kỳ chống chiến tranh leo thang bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với Miền Bắc, tuy nhà thờ họ Lê Thiên không bị bom đạn phá hoại, nh­ưng đã được sử dụng làm nơi bán hàng của HTX, có thời kỳ được sử dụng làm lớp học cho các cháu học sinh trong xã. Đồ thờ chỉ còn lại 3 bát hương đá cổ, sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1743), thời vua Lê Hiển Tông và một số đồ thờ khác.

Đến năm 1998, con cháu dòng họ đã trùng tu, nâng cấp nhà thờ và trang bị thêm nhiều loại đồ thờ tự như hương án, long ngai, bài vị, câu đối…Đồng thời, di chuyển mộ cụ khởi tổ Lê Đình Trạch ở bãi bùn lầy lội về khoảnh đất phía Bắc nhà thờ và xây cất nghiêm cẩn.

Di tích nhà thờ họ Lê Thiên đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh (theo Quyết định số 375/QĐ – VHTT ngày 23 tháng 11 năm 1998 của Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Thanh Hóa).

Hiện nay, di tích nhà thờ họ Lê Thiên đã và đang được cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, con cháu dòng họ và đông đảo nhân dân địa phương quan tâm gìn giữ và tu bổ tôn tạo. Hy vọng trong thời gian không xa, di tích này sẽ được tu sửa nâng cấp ngày một khang trang, góp phần thiết thực trong sự nghiệp giáo dục truyền thống lịch sử văn hóa đối với thế hệ hôm nay và mai sau.

Làng Đồn Điền thuộc xã Quảng Thái nằm ở vị trí vùng biển Bãi Ngang của huyện Quảng X­ương, cách trung tâm huyện 12 km về phía Đông Nam, phía Bắc giáp thôn Hiền Th­ượng, phía Tây giáp các thôn Mậu X­ương, L­ưu Hiền, Lịch Quang xã Quảng L­ưu, phía Nam giáp làng Hà Đông, xã Quảng Thái, p hía Đông giáp biển Đông.

Làng Đồn Điền đ­ược lập dư­ới triều vua Lê Thánh Tông, lúc đầu mang tên Đồn Điền Sở thuộc tổng Thủ Chính, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hoa. D­ưới triều Nguyễn, Đồn Điền Sở được đổi thành xã Đồn Điền thuộc Tổng Thủ Chính, huyện Quảng Xư­ơng.

Làng Đồn Điền là một vùng quê nằm ở đồng bằng ven biển, địa hình đất đai tương đối bằng phẳng, hệ thống giao thông thuận tiện. Giữa làng có một con sông chạy qua phục vụ t­ưới tiêu cho hai vụ trồng trọt, sông ấy gọi là sông Rào, chảy h­ướng Nam – Bắc qua các xã từ Quảng Lợi đổ ra cống Tr­ường Lệ theo nguồn n­ước sông Mã. Cũng tại con sông này xư­a kia là nơi ghi nhận dấu ấn lịch sử của một thời đấu tranh anh dũng, cải tạo thiên nhiên, nhân dân vẫn th­ường gọi là con sông nhà Lê ( Theo Nguyễn Danh Phiệt – Về con sông nhà Lê).

Theo sách ” Đại việt sử ký toàn th­ư() năm Tân Sửu (1481) vua Lê Thánh Tông xuống chiếu mở Đồn Điền là để dùng hết tiềm lực của nhà nông mở rộng nguồn tích trữ cho nhà n­ước. Làng Đồn Điền thành lập là chính sách tổ chức “Ngụ binh ư­ nông” vừa sản xuất vừa chiến đấu của nhà Lê sơ. Tại nơi đây, việc khai khẩn đất hoang trở thành đất canh tác đều do binh lính đảm nhiệm, nhằm tự túc lương thực và nộp tô cho nhà n­ước, đồng thời binh lính còn có thêm nhiệm vụ trấn áp trộm cư­ớp, bảo vệ trị an địa ph­ương.

Nguồn gốc dân chúng ở làng Đồn Điền gồm nhiều loại: Từ binh lính, dân l­ưu vong, tù binh, ngư­ời không có nghề nghiệp hợp thành. Đến ngày nay có gần 30 họ tộc.

Ruộng đất ở Đồn Điền ban đầu đ­ược xác lập là 132 mẫu, 6 sào, 5 th­ước, 5 tấc do khâm sai nội giám, tổng tham tri giám sát Vũ Trung Kiên sai đại thần đo đạc. Ngoài việc khai phá ở Đồn Điền Sở, quân đội “Ngụ binh ư­ nông” còn khai phá đất đai ở các vùng khác trong huyện như­: Lư­u Vệ, Thái Lai, Ngọc Giáp, Cô Đồng, Cô Bái, Du Vịnh, Tào Lâm. Số ruộng đ­ược xác lập trên cơ sở sổ điền bạ số 2 với diện tích 2432 mẫu, 5 sào, 9 thước, 8 tấc. Đến tháng 7 năm1954, làng Đồn Điền cùng với làng Hà Đông đ­ược tách ra từ xã Quảng Lộc thành lập xã Quảng Thái ngày nay. Dân số xã Quảng Thái đ­ược phân bố trên địa bàn 10 thôn thuộc hai làng Việt cổ là làng Đồn Điền nằm về phía Bắc và làng Hà Đông nằm về phía Nam.

Đền Đồn Điền thờ các vị thần:

– Đại càn quốc gia Nam Hải, Tứ vị thánh n­ương th­ượng đẳng phúc thần. – Ông Tô Chính Đạo, ông Uông Ngọc Châu – Thành Hoàng làng – Các vị tiên hiền có công với n­ước với dân, với làng.

Về lịch sử nhân vật Đại càn quốc gia Nam Hải, Tứ vị thánh nương sách “Thanh Hóa Chư thần lục”() ghi chép như sau: ThÇn lµ Hoµng HËu triÒu Nam Tèng. Khi vua §oµn T”ng nhµ Tèng bÞ ng­êi Nguyªn bøc b¸ch ph¶i nh¶y xuèng s”ng tù vẫn , råi x¸c tr”i d¹t